Cái Gì Trân Quí Nhất

10/04/201312:20(Xem: 7262)
Cái Gì Trân Quí Nhất

spider_1CÁI GÌ TRÂN QÚY NHẤT

Thích Hải Tín

---o0o---

Thuở xưa, trong một thành nọ, có một ngôi chùa tên là Viên Âm, mỗi ngày có rất nhiều người đến thắp hương lễ Phật, nên chùa cũng rất hưng thịnh. Trên xà ngang (đòn tay) ở nóc chùa có con Nhền Nhện (Tri Thù) giăng tơ làm tổ. Do vì mỗi ngày đều chịu nhiều khói hương và sự kiền thành lễ bái xông lên, cho nên con Nhền Nhện đã có Phật tánh. Trải qua hơn một ngàn năm tu luyện, Phật tánh của Nhền Nhện cũng đã tăng lên nhiều.

Một ngày nọ Đức Phật quang lâm đến chùa Viên Âm, thấy hương khói nơi này rất thịnh vượng, Phật rất hoan hỷ. Lúc rời chùa, bất ngờ nhìn lên, thấy con Nhền Nhện trên xà ngang, Phật dừng lại, nói với Nhền Nhện rằng: “ Ta và ngươi có duyên mới gặp nhau, thấy ngươi tu luyện ở đây hơn ngàn năm rồi, không biết ngươi đã có kiến giải hay thấu triệt gì chưa, vậy Ta muốn hỏi ngươi một vấn đề, có được không?” Nhền Nhện gặp được Phật Nhền Nhện rất vui mừng, liền đồng ý lời Phật nói.

Đức Phật hỏi Nhền Nhện rằng: “Trên đời này cái gì là trân quý nhất?” Nhền Nhện suy nghĩ một hồi rồi đáp rằng: “Bạch Thế Tôn, trên đời này cái trân quý nhất là cái “đạt không được” và cái “đã mất đi”.” Đức Phật khẽ gật đầu rồi rời khỏi chùa Viên Âm.

Như vậy 500 năm đã trôi qua, Nhền Nhện vẫn tu luyện trên xà ngang của chùa Viên Âm. Tánh Phật của Nhền Nhện ngày càng sáng ra. Một ngày nọ Phật tổ lại đến chùa, nói với Nhền Nhện rằng: “Này Nhền Nhện, ngươi vẫn khỏe chứ? vấn đề 500 năm trước, ngươi có hiểu biết gì sâu rộng chưa?” Nhền Nhện đáp rằng: “Bạch Phật, con cảm thấy cái trân quý nhất trên đời này vẫn là cái “đạt không được” và cái “đã mất đi”.” Đức Phật nói: Ngươi tiếp tục tu luyện và suy nghĩ thêm đi, Ta sẽ tiếp tục đến tìm ngươi”.

Năm trăm năm nữa lại trôi qua, một ngày nọ, gió mạnh nổi lên, gió thổi một giọt nước cam lộ bay và vướng vào ổ lưới Nhền Nhện. Nhền Nhện nhìn giọt cam lộ, thấy nó trong suốt óng ánh rất đẹp, bèn sanh ý ưa thích. Nhền Nhện mỗi ngày ngắm nhìn giọt cam lộ rất vui vẻ, nó cảm thấy rằng đây là những ngày vui vẻ nhất trong hai ngàn năm nay.

Bỗng nhiên một cơn gió mạnh thổi đến, giọt nước cam lộ kia cũng bị gió thổi đi mất. Nhền Nhện trong phút chốc cảm thấy mất đi cái gì đó, cảm thấy cô đơn buồn tẻ khó chịu. Lúc này Phật tổ lại đến, hỏi Nhền Nhện rằng: “Nhền Nhện à, năm trăm năm nay ngươi suy nghĩ kỹ vấn đề: Trên đời này cái gì là trân quý nhất?” Nhền Nhện nghĩ đến giọt cam lộ, vẫn đáp với Phật rằng: “Bạch Thế Tôn, trên đời này cái quý nhất là vẫn là cái “đạt không được” và cái “đã mất đi”.” Phật nói rằng: “Hay lắm, ngươi đã kiến giải như vậy, hiểu biết như vậy, vậy Ta cho ngươi đi một vòng ở thế gian vậy”.

Như vậy, Nhền Nhện đầu thai làm một tiểu thơ giàu có, làm con của một gia đình quan đại thần, cha mẹ cô ấy đặt cho cô ấy một cái tên là Tri Nhi (Bé Nhền Nhện), đến năm 16 tuổi Bé Nhền Nhện đã trở thành một thiếu nữ thướt tha yểu điệu đẹp đẽ sạch sẽ cảm động lòng người.

Một ngày nọ, vua trong nước quyết định tổ chức tiệc mừng công cho tân khoa bảng vàng trạng nguyên Cam Lộc ở phía sau hoa viên. Trong buổi tiệc có rất nhiều thiếu nữ trẻ tuổi đến tham dự, có cả tiểu công chúa Trường Phong của vua. Trong buổi tiệc chàng trạng nguyên Cam Lộc, đem tài nghệ của mình ra cống hiến, như thi từ ca phú, tất cả thiếu nữ trong buổi tiệc không ai không bị tài nghệ của chàng trạng nguyên kia thuyết phục. Nhưng Bé Nhền Nhện không có gì tỏ ra lo lắng hay ganh tỵ gì, vì cô ấy biết, đây là nhân duyên Phật tổ thưởng cho cô ấy.

Mấy ngày sau, kể ra thì cũng lạ thật, lúc Bé Nhền Nhện đưa mẹ đi thắp hương lễ Phật, cũng lúc ấy Cam Lộc cũng đưa mẹ đến lễ Phật. Sau khi thắp hương lễ Phật xong, hai người mẹ đứng một bên thăm hỏi chuyện trò, Bé Nhện và Cam Lộc vừa đi trên hành lang vừa trò chuyện, Bé Nhền Nhện rất vui vẻ nghĩ rằng, cuối cùng mình cũng được ở bên cạnh người mình yêu thích, nhưng Cam Lộc không có biểu hiện với sự vui thích của cô ấy. Tri Nhi (Bé Nhền Nhện) nói với Cam Lộc rằng: “Lẽ nào bạn chưa từng nhớ sự việc trên mạng lưới nhền nhện ở chùa Viên Âm mười sáu năm về trước hay sao?!” Cam Lộc rất kinh ngạc, nói rằng: “Bạn Tri Nhi ơi, bạn rất đẹp, cũng làm cho người ta thích, nhưng sức tưởng tượng của bạn hơi phong phú một chút.” Nói xong hai người chia tay nhau, cùng với mẫu thân rời chùa.

Tri Nhi về đến nhà, trong lòng nghĩ rằng: “Phật tổ đã an bài chuyện hôn nhân như vậy, vì sao không làm cho anh ấy nhớ lại chuyện trước đây? Vì sao Cam Lộc không có cảm giác gì với mình?” Mấy ngày sau, vua ban lệnh, tân khoa trạng nguyên Cam Lộc kết hôn cùng với công chúa Trường Phong, Thái tử Chi Thảo kết hôn với Tri Nhi. Tin này đối với Tri Nhi như là sét đánh giữa trời quang, cố ấy nghĩ mãi mà nghĩ cũng không thông, vì sao Phật tổ đối với cô ấy như vậy?!

Trong mấy ngày sau khi biết tin tức như vậy, cô ấy không ăn không uống gì, tính mạng rất nguy kịch sớm chiều. Thái tử Chi Thảo vừa hay được tình hình của Tri Nhi, bèn vội vàng chạy đến, bổ nhào đến bên cạnh giường của Tri Nhi, nói với Tri Nhi đang thoi thóp chút hơi tàn rằng: “Ngày ấy, trong các tiểu thư ở sau hoa viên, ta mới gặp nàng đã đem lòng yêu quý, ta đã khổ nhọc khẩn cầu phụ hoàng, phụ hoàng mới đáp ứng lời khẩn cầu của ta. Nếu nàng chết rồi, thì ta cũng không thiết sống nữa”. Nói xong, bèn rút gươm định tự tử.

Ngay lúc này, Phật tổ đến, Ngài nói với thần thức của Tri Nhi sắp thoát khỏi thân xác rằng: “Này Nhền Nhện, ngươi đã từng nghĩ qua, Cam Lộ (hay Cam Lồ tức Cam Lộc) do ai mang đến bên cạnh ngươi vậy? Là do gió (công chúa Trường Phong) mang đến, cuối cùng cũng do gió mang nó đi. Cam Lộc là thuộc về công chúa Trường Phong, người ấy chẳng qua chỉ là khúc nhạc chen vào trong cuộc đời của ngươi mà thôi. Nhưng lúc ấy Thái tử Chi Thảo là cây cỏ nhỏ ở trước chùa Viên Âm, người ấy đã gặp ngươi hai nghìn năm rồi, đã ái mộ ngươi hai nghìn năm rồi, nhưng ngươi lại chưa từng cuối đầu nhìn qua người ấy. Này Nhền Nhện, bây giờ Ta lại hỏi ngươi, trên đời này cái gì là trân quý nhất?”

Tri Nhi (Bé Nhền Nhện) sau khi nghe những chân tướng này, bỗng nhiên đại triệt đại ngộ, cô ấy bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn, trên đời này cái trân quý nhất không phải là cái “đạt không được” và cái “đã mất đi”, mà là hạnh phúc đang có trong hiện tại.”

Vừa nói xong Phật liền ra đi, thần thức của Tri Nhi cũng đã trở lại thân xác của Tri Nhi, cô ấy từ từ mở mắt ra, thấy Thái tử Chi Thảo đang muốn tự vẫn, cô ấy lập tức đánh thanh gươm rơi xuống đất, và ôm chặt Thái tử vào lòng…

Thiền Tư Thiền Ngộ:

Trên đời này rất nhiều người cố chấp việc truy cầu những gì mình đạt không được hoặc đã mất đi, mà bỏ đi, đánh mất đi hạnh phúc trước mắt có được, như những gì có ở trong tay mình, điều này thật rất không đáng biết bao?! Trên đời này cái trân quý nhất không phải là cái gì “đạt không được” và cái “đã mất đi”, mà là hạnh phúc đang có trong hiện tại.

---o0o---

Trình bày: Linh Thoại

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
11/09/2013(Xem: 5835)
Hân tra chìa khóa, mở cửa bước vào phòng làm việc. Căn phòng khá rộng. Diện tích gấp hai sân bóng rổ hầu hết chứa kệ vải. Ở một góc sát cửa sổ nhìn ra ngọn đồi cỏ là chỗ làm việc của Hân với Susan, chiếm 1/6 căn phòng, có một bàn dài, kế đó là những dãy kệ chứa nú
11/09/2013(Xem: 7207)
Hằng năm vào tháng mười, sinh nhật tôi, tôi có thông lệ, trước tiên là tự nhắc mình đóng tiền niêm liễm đến Văn Bút Âu Châu (tôi là hội viên mà), kế đó là cố nặn óc tìm một truyện ngắn về đề tài Sinh Nhật coi như món ăn tinh thần "đãi" quí vị độc giả.
10/09/2013(Xem: 8036)
Một lần nữa, chẳng quản đường xá xa xôi, thời gian, công sức, tôi tìm về tu viện Viên Đức Đức quốc không những gặp lại nhị vị Đại Đức Thích Hạnh Đức, Đại Đức Thích Hạnh Tuệ, tôi đã may mắn tiếp thụ tài thuyết giảng của hai Thầy; một người giảng thật nhẹ nhàng nhưng sâu, một người giảng lôi cuốn hấp dẫn trong khoá tu học do anh em Gia Đình Phật Tử Thụy Sĩ tổ chức vào dịp lễ Phục Sinh hằng năm vừa qua, mà còn hân hoan chào đón thêm 6 vị trong phái đoàn “Hoằng Pháp Âu Châu” do Hòa Thượng Phương Trượng Thích Như Điển tổ chức, một lực lượng hùng hậu chưa từng có từ trước đến nay. Nhìn trong danh sách giảng huấn của phái đoàn, tôi gọi đùa, toàn “Cao thủ võ lâm!” mặc dù không ai là võ sĩ cả mà là tu sĩ!
10/09/2013(Xem: 9253)
“Hậu sinh khả úy“ (kẻ sanh sau thật đáng nể sợ) là câu nói của ngài Khổng Tử, một triết gia Trung Hoa thốt ra khi ngài cùng học trò đi dạo thấy một em nhỏ vọc gạch cát xây thành giữa lối đi, ngài bảo: “Tránh chỗ cho xe ta qua“. Đứa nhỏ đứng dậy, đáp: “Xưa nay, xe tránh thành, chứ thành nào lại tránh xe“. Thấy đứa nhỏ đối đáp thông minh, Khổng Tử xuống xe cùng bé trò chuyện, đưa ra nhiều câu hỏi rất khó khăn, đứa bé đều trả lời thông suốt
09/09/2013(Xem: 7124)
Đối với những ai đã từng ghé Ấn Độ, nghe ngóng, tìm hiểu, quan sát, hẳn không xa lạ gì với thế giới của lực lượng Tăng Ni sinh viên Việt Nam đang du học tại đó. Nhưng với riêng tôi, cho mãi năm 2011 trong chuyến hành hương Tích Lan, tôi mới thực sự biết được bằng mắt thấy tai nghe thế giới lạ đó qua sự giới thiệu của Hòa Thượng Phương Trượng chùa Viên Giác về bốn sinh viên tu sĩ, học tăng từ Ấn Độ.
09/09/2013(Xem: 6775)
Nói đến, viết đến các khóa học Âu Châu, bao năm qua cây viết của tôi đã gần mòn, đã có nhiều bài viết về khóa học, viết đến độ không còn gì để viết. Nào ăn, nào ngủ, nào học, nào chơi... đủ cả. Khỏe cả bên trong, tốt lẫn cả bên ngoài. Thế thì lần này sẽ viết về gì đây?! Xin thưa, viết về “Thiên Đường Hạ Giới“ ạ.
06/09/2013(Xem: 6095)
Từ chùa Từ Đàm, tôi trở lại khóa học, nơi tổ chức khóa tu Âu Châu của mười ngày qua. Sân trường giờ vắng hoe. Thảm cỏ xanh dẫn ra con đường lớn, không còn một bóng người. Vài băng ghế nằm rải rác trên sân cỏ cũng đìu hiu như nhớ, như chờ ai. Bên trong trường học lưa thưa sót lại một số người đang dọn dẹp và một số đang đợi chuyến bay cho ngày hôm sau khi khóa học bế giảng. Hằng ngàn người, mới đó mà...biến mất. Biến như một cơn gió thoảng qua.
06/09/2013(Xem: 14319)
Lý số, đông y là nghề của bố chồng tôi. Không rõ nhờ cụ thực tài hay tại hành nghề miễn phí, không nhận thù lao của khách nên khách của cụ khá đông. Một ngày, năm đó tôi vừa 23 tuổi, có một vị khách đặc biệt đến nhà giữa lúc bố tôi đi vắng. Vị khách tướng tá khác phàm, râu tóc bạc phơ, cốt cách như một tiên ông. Cụ mặc chiếc áo dài the, đầu đội khăn đóng như bố chồng tôi vậy, tay cụ cầm gậy trúc và tự xưng là bạn của bố tôi mặc dù xưa nay tôi chưa hề gặp cụ bao giờ. Tôi mời cụ vào nhà.
29/08/2013(Xem: 16448)
Năm 1983: chúng tôi cạn kiệt khi mua xong đất làm tự viện mà còn thêm nợ nữa. Mảnh đất thật trơ trọi, không nhà cửa, một túp liều cũng không, Suốt mấy tuần lễ đầu chúng tôi phải ngủ trên cánh cửa cũ mua rẻ trong bãi phế liệu. Chúng tôi kê bốn góc gạch làm giường (dĩ nhiên làm gì có nệm – chúng tôi tu ở rừng mà!).
27/08/2013(Xem: 14903)
Tại một xứ Hồi giáo nọ, có một người đàn ông bị vua truyền lệnh treo cổ vì đã ăn cắp thức ăn của một người khác. Như thường lệ, trước khi bị treo cổ, tù nhân được nhà vua cho phép xin một ân huệ. Kẻ tử tội bèn xin với nhà vua như sau: "Tâu bệ hạ, xin cho thần được trồng một cây táo. Chỉ trong một đêm thôi, hạt giống sẽ nảy mầm, thành cây và có trái ăn ngay tức khắc. Ðây là một bí quyết mà cha thần đã truyền lại cho thần. Thần tiếc là bí quyết này không được truyền lại cho hậu thế".