Đường lên núi Cấm

10/04/201311:56(Xem: 7356)
Đường lên núi Cấm

nui cam 



ĐƯỜNG LÊN NÚI CẤM

Lam Khê

---o0o---

Tùy bút




Bốn giờ sáng…đòan khảo sát xuất phát từ Chùa Đông Lai tiến dần về vùng núi Cấm. Đòan đi hai xe khoảng hơn sáu mươi vị. Gồm có thầy Chủ nhiệm, quý Thầy Giáo Thọ, tăng ni sinh của ba lớp Hán Nôm cùng các vị phật tử. Hôm nay đã bước sang ngày thứ hai, và là lộ trình chính của chuyến tham quan. Khi còn cách chân núi khoảng gần câysố thì mọi người bước xuống, bắt đầu một cuộc du hành…vượt núi băng ngàn.

Tôi đi theo phái đòan đầu tiên có quý thầy dẫn đường, nhưng lần hồi bị tụt lại phía sau. Cũng may là có một số còn chậm hơn, cùng nhập bọn lại đi chung với nhau. Những người đi đoạn hậu thì chẳng cần gì phải vội vã. Đòan có sáu vị, hai thầy và bốn cô-đều học khác lớp. Trên đường đi lại góp nhặt thêm vài thành viên bị bỏ rơi lại nữa. Đi một đoạn khá xa, tôi nhìn lên ngút mắt cũng chẳng thấy tăm hơi bóng người; nhìn lại đằng sau thì chỉ có tiếng lá cây xào xạt cùng làn sương đêm giăng kín mịt  mù. Trời vẫn còn tối lắm. Cả đoàn bắt đầu ca hát và chuyện trò rôm rã cho quên bớt đường dài. Tôi tìm được cây gậy, rồi vừa thông thả bước đi, vừa khe khẻ ngâm nga một vài câu thơ. Thiên nhiên đối với tôi luôn là người bạn chí tình chí nghĩa. Có điều…lần đầu tiên leo lên ngọn núi cao hơn sáu cây số….mồ hôi ướt vã cả người, tôi chẳng còn mấy tâm sức để mà thưởng ngọan cho hết bao vẻ đẹp giữa cảnh núi rừng hùng vĩ.

Khi trời sáng hẳn thì chúng tôi đã leo lên được lưng chừng núi. Mọi người ghé vào một quán nước ngồi nghỉ và gọi cà phê uống. Tôi leo lên một tảng đá nhỏ, phóng tầm mắt nhìn quanh khắp chốn. Cảnh núi rừng buổi sáng sao mà yên ả quá. Không một tiếng chim rừng ríu rít. Không cả một cơn gió nhẹ thoảng qua. Trong sự bình yên tĩnh mịch này, tôi bỗng nghe có tiếng róc rách của suối ngàn. Dòng suối từ trên đỉnh cao đổ xuống ở phía bên kia thung lũng; vì bị che chắn bởi rừng cây trước mặt nên tôi không trông thấy gì. Nhưng tiếng suối reo trong nắng sớm, khung cảnh núi đồi huyền hoặc như sương khói khi gần khi xa…gợi cho lòng người biết bao là thi vị. Bất chợt đã làm cho tôi nhớ đến bài thơ của một nhà thơ cổ nổi tiếng:

“Bầu trời cảnh Bụt

Thú Hương Sơn ao ước bây lâu nay

Kìa non non nước mây mây

Đệ nhất động hỏi rằng đây có phải?

Thỏ thẻ rừng mai chim cúng trái

Lửng lờ khe yến cá nghe kinh

Thoảng bên tai một tiếng chày kình

Khách tang hải giật mình trong giất mộng

Này suối Gỉai Oan

Này non Phật Tích

Nhát trong lên ai khéo vẽ nên hình”

Ơû đây nào phải là “Hương Sơn phong cảnh” của thi sĩ Chu Mạnh Trinh, nên làm gì có đệ nhất động. Cũng chẳng có: “rừng Mai, khe Yến”, không có cả “suối Giải Oan”cùng “Am Phật Tích”. Nhưng non nước mây trời và cảnh bụt thì chắc là không thể thiếu. Đoàn “du khảo” chúng tôi đang lần tìm về cảnh Phật. Nơi in dấu tích của các bậc tiền nhân đi khai sơn mở đất. Đến đây rồi mới thấy hết sự bạt ngàn của sông núi Quê hương. Đến đây mới thấm hiểu được muôn vàng sự khổ nhọc của con người. Những ngôi chùa mang tầm vóc qua các thời đại. Những ngôi đền thờ chứa đựng biết bao điển tích hiển linh thần bí. Bao nhiêu đó cũng đủ hình thành và tồn tại để cho người đời sau  có dịp chiêm bái tự hào. Còn người đi xây đắp thì cứ mãi cần cù lặng lẽ giữa chốn rừng sâu im vắng.

Dọc đường chúng tôi cứ phải dừng lại nghỉ ngơi bên mấy quán cốc. Quán nào cũng treo đầy những chiếc võng miễn phí để chào mời khách. Họ bày bán đủ các thứ trên đời. Từ quà lưu niệm, thức ăn chay, đồ uống đủ loại…cho đến thuốc chế biến từ cây rừng và cả dầu thoa bóp .Có quán còn chưng dọn cả dàn karaoke hát ca inh ỏi (núi rừng bây giờ cũng văn minh lắm rồi).Trên đường tôi gặp rất nhiều người dân tộc. Họ trao đổi với nhau bằng thứ ngôn ngữ riêng, nhưng tôi đoán biết là họ cũng đang miệt mài nói về công việc làm ăn. Bứơc chân của họ đi xuống một cách thoăn thóăt lẹ làng. Khi đi lên, họ trải từng bước vững chắc trên các bực thang đá thẳng đứng.Trên vai họ là những gánh hàng hóa nặng trĩu…nào là vật dụng đồ đạt của khách, nào là gạch ngói sắt đá xây dựng, cho đến những giỏ mít, chuối,dâu được mang từ trên núi cao xuống.

Còn chúng tôi, sau khi gởi hết mọi tay nải, túi xách cho nhẹ nhàng…Mỗi người chỉ mang theo một chiếc gậy, một cây quạt phe phẩy ma øthung dung cất bước, cứ y như các vị thiền sư đi dạo cảnh Yên Tử thuở xưa. Dù sao thì đi chậm vẫn có cái thú riêng của nó …Bởi lẽ .tôi sẽ được nghiền ngẫm cho hết những đoạn đường dốc đá cheo leo khúc khuỷu lượn quanh các triền núi. Chúng tôi lai có dịp nhìn ngắm bầu trời xanh thẩm một cách thỏa thích mỗi khi …ai đó thấm mệt, phải dừng lại chống gậy ngửa mặt lên trời để thở. Rồi  còn gì thú vị hơn khi đã quá mỏi mệt vì đói, chúng tôi lại tạt vào một quán ven đường để thưởng thức món ăn đặc sản của núi rừng. Đó là những chiếc bánh xèo nóng hổi, ăn kẹp với vài món rau rừng có cái mùi vị chua chua chát chát mà sao cảm thấy ngon miệng lạ thường.

Đến quá chín giờ sáng thì đoàn chúng tôi cũng leo lên được tới cổng chùa. Tất cả mọi người đều đã lên trước  đó một vài giờ, đang  ngồi nghỉ bên các dãy hành lang hoặc đi ngắm cảnh. Khi đứng trước ngôi chùa Vạn Linh đầy vẻ uy nghiêm và tráng lệ. Tôi hầu như trút hết bao gánh nặng trên đường. Chùa do Hòa Thượng Trí Tịnh khai sáng từ mấy chục năm nay_khi ấy được gọi là chùa lá. Tên gọi này đã trở thành quen thuộc với người dân ở đây; dù bây giờ chùa được xây dựng lại khá khang trang. Phía trước mặt chùa sừng sững một ngọn tháp cao bảy tầng.Đi từ xa, tôi đã nhìn thấy ngọn tháp này.Tháp vẫn còn dở dang nhưng đã lộ rõ vẻ nguy nga trang trọng .

Dù rất mệt nhưng tôi vẫn thích thả bộ dạo quanh khuôn viên chùa, để được ngắm nhìn mọi công trình đồ sộ và tận hưởng hết mọi sức sống đang vươn lên từ trong lòng đất .Ở đây con người và vạn vật dường như có sự cảm thông lẫn nhau. Phải chăng sống giữa khung cảnh yên bình này ,lòng người trở nên cao thượng và gần gũi với muôn lòai hơn. Niềm tin sẽ thắp sáng mọi chân trời phía trước, ý chí chính là động lực sáng tạo nên bao kỳ quan cho hậu thế .Ngày trước ngài Huyền Trang đi thỉnh kinh tận bênTây Vực cũng bắt đầu từ một niềm tin và ý chí. Trải qua 17 năm gian khổ, ngài một mình “vượt suối băng ngàn, chịu đựng mọi sự nóng lạnh khắc nghiệt của thời tiết. Trên đường đi, ngài chỉ biết nhìn theo đám khói mây mù, dẫm trên sương tuyết mà lần hồi tiến về phía trước. Như vậy thì làm gì có được quán trọ đường hoàng để dừng bước nghỉ chân. Thậm chí đến tiếng gà gáy trong am tranh, dấu chân người qua lại chốn cầu đường cũng không hề thấy. Ngài lại phải vượt qua những dãy núi tuyết cao hơn nghìn dặm, những bãi sa mạc mênh mông. Trên không một tiếng chim kêu, dưới không một bóng thú chạy, lại luôn đối mặt với muôn vạn lần cái chết”. Sự ra đi đầy mạo hiểm của ngài Huyền Trang hoàn toàn do lòng tự nguyện. Tâm chí thành thiết tha vì đạo, cùng nguyện lực sâu dày đã giúp ngài bao lần thoát hiểm nạn, để rồi cuối cùng trở về trong niềm tôn nghinh kính phục của muôn  người, muôn đời.

Màn đêm buông xuống bao trùm mọi cảnh vật. Vậy mà bên trong chùa Vạn Linh hầu như khác hẳn. Dòng điện từ chiếc máy phát ra tỏa chiếu sáng rực. Trên khắp các dãy hành lang chánh điện, nhà tổ, nhà khách chật kín khách hành hương nghỉ lại qua đêm. Tiếng tụng kinh trầm ấm vang xa.Tiếng náo nhiệt của du khách viễn phương làm khuấy động một góc không gian tĩnh lặng. Một sự khuấy động khá là yên lành và thánh thiện. Rừng núi về đêm…bầu trời không trăng sao, mọi vật lại xa khuất tầm nhìn. Trong cảnh bàng bạc của màu trời, tôi cảm nhận có cả hơi thở của từng nhựa cây đang tuôn chảy. Vạn vật hữu tình…  để cho con người  thao thức mà suy nghiệm trong thinh lặng của lòng mình.

Đến nữa khuya thì cơn mưa bất chợt đổ xuống. Những giọt mưa rỉ rả thâu đêm như cố níu bước chân ngưòi ở lại. Thế nhưng, dù muốn dù không thì sáng mai này, đoàn du khảo chúng tôi cũng phải xuống núi. Đoạn đường đi xuống dù trơn trợt vẫn dễ chịu hơn nhiều. Mọi việc đến đi là điều tất yếu, thì sự lưu  luyến chỉ là chút khoảnh khắc nhất thời để tỏ lòng gắn bó. Mai này xin từ giã rừng núi uy linh ngàn năm còn in dấu chân người khai phá. Xin từ giã cảnh  chùa xưa còn chìm trong sương mờ mà vần quang đã tỏ rạng. Ngày mai khi trở lại thành phố, tôi xin mang về chút tình nắng gió phương xa…để lấy đó làm tin và cũng để trang trải lòng mình với muôn trùng sự sống bao la./.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/11/2010(Xem: 5118)
Tôi thăm lại chùa Viên Giác sau nhiều năm xa cách. Lần này không như vài lần về dự lễ Phật Đản, tôi đến với một tâm trạng khác. Đã hơn ba tuần trước đó, kể từ khi gần ngày công bố kết quả cuộc thi Giải Thưởng Viên Giác "Viết Về Âu Châu",
09/11/2010(Xem: 4722)
Núi Na ở thôn Quần Ngọc, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa. Trên đỉnh núi có chùa xưa, tục danh là Tiên am. Phía tả có động thâm u.
09/11/2010(Xem: 4571)
"Giảo thố tam quật" nghĩa là "con thỏ khôn có ba ngách hang". Ý nói: thỏ có ba ngách hang để tránh cho khỏi bị chết...
05/11/2010(Xem: 4533)
Ở xã Trị Nội, huyện Nga Sơn, phía hữu núi Thần Phù có "Bích Đào động" cũng gọi là "Từ Thức động", trong trải rộng rãi mà lại thanh hư, cây cối xinh tốt.
03/11/2010(Xem: 4147)
Nhà Tần (306-209 trước D.L.), đời vua Tần Thủy Hoàng (221-209 trước D.L.) có người con gái họ Hứa tên Mạnh Khương. Chồng của nàng họ Phạm tên Thực, người ở miền Quan Trung nước Sở.
31/10/2010(Xem: 4215)
Đời vua Hán cảnh Đế có người bán dầu tên Bùi Độ nghèo khổ lang thang, được thầy tướng số cho biết sẽ chết đói vì coi tướng mặt có hai đường chỉ...
30/10/2010(Xem: 4671)
Triều vua Lý Thái Tông (1028-1054) nước Đại Việt, Xạ Đẩu không theo lệ cống, thất lễ phiên thần, vua tự đem binh Nam chinh. Xạ Đẩu bày trận ở sông Bồ Chính...
27/10/2010(Xem: 5770)
Hằng Nga trong cung trăng: Theo sách của Hoài Nam Tử, Hậu Nghệ xin thuốc trường sinh của bà Tây Vương Mẫu, Hằng Nga là vợ của Hậu Nghệ uống trộm...
27/10/2010(Xem: 26163)
Mục đích của chúng tôi trong khi sưu tập những mẫu chuyện kể này là để mọi người thưởng thức những tinh hoa hay đẹp của giáo – lý qua những câu chuyện tươi sáng đẹp đẽ. Nếu công việc sưu tập ca – dao là một việc khó thì công việc sưu tập và trình bày những mẩu chuyện cổ của đạo Phật cũng là một việc khó khăn và đòi hỏi sự hợp lực của nhiều người. Hàng chục ngàn mẫu chuyện đạo, nào thuộc loại tiền thân, nào thuộc loại lịch sử, nào thuộc loại thí dụ, nào thuộc loại triết lý. . . những câu chuyện đó thật là phong phú và chứa đựng những tinh hoa của giáo - lý, từ - bi và trí tuệ. . . Ðọc những mẫu chuyện đạo ấy, không ai thấy chán nản cả. Các em thiếu nhi thích đã đành, người lớn chúng ta cũng vẫn thích và hơn thế nữa, lắm lúc cũng phải suy nghĩ nhiều để có thể hiểu được triết – lý của một câu chuyện. Chúng tôi sức lực không bao lăm thành thử trông mong rất nhiều ở các vị học giả thâm uyên và dày công nghiên cứu. Chúng tôi chỉ muốn làm công việc nói lên những nguyện vọng, và tr
22/10/2010(Xem: 6464)
Tại biên giới của tỉnh Tây Khương sát với Tây Tạng, có một bà lão sống cô độc, chồng và đứa con trai duy nhất của bà đã qua đời. Bà sống nhờ một thửa đất nhỏ trồng những hạt ngũ cốc. Vì cuộc đời đã trải qua nhiều gian truân từ nhỏ, bà lão cảm thấy nghiệp chướng trong người rất nặng nên đã cố công tìm hỏi những người chung quanh phương pháp chuộc tội để cầu xin cho tâm hồn được bình yên.