Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. [email protected]* Viện Chủ: HT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Qua mùa mưa bão

10/04/201311:48(Xem: 4632)
Qua mùa mưa bão

mua_rain1

Qua mùa mưa bão

Lam Khê

Trong cuộc sống có những sự việc xảy ra cứ bắt người ta luôn nhắc nhở đến với tất lòng trân trọng kính ngưỡng. Cái nhớ đôi khi chỉ từ một lẽ rất thường tình, một thoáng hương xa chợt đến chợt đi trong cõi vô thường, mà khắc đậm nên cho đời bao ý hướng thanh cao ngời ngợi.

Năm đó Tôi về quê nhằm vào mùa mưa bão. Về thăm Quê mùa này thì chẳng có gì thú vị. Nhưng là vì giỗ đầu của người bác dâu, với lại lâu lắm không có dịp về quê, Tôi những muốn tận hưởng cái rét buốt nơi quê nhà để được ngâm mình trong mớ áo khoát dày cộm ít khi được dùng đến.

….Bà Thượng lui cui dọn dẹp giuờng chiếu trong căn chói lá của mình. Cái chòi rộng chưa đầy mười mét vuông nằm trên mảnh đất của ông anh họ con người O (Cô) ruột của Tôi, và cũng là cháu gọi bà bằng cô. Gia sản trong nhà chỉ có chiếc giường tre, chiếc bàn con, cái bếp lò bé bé sứt mẻ và vài vật dụng chẳng giá trị gì. cũng không có được ngọn đèn điện như phần đông các gia đình khác trong xóm. Bà lấy mùng mền gối vớ ra cho Tôi và bảo:_ Cô nằm đây nghỉ cho yên tịnh, chứ bên đó đám sám ồn ào, tụi nhỏ lại ăn nhậu ca hát suốt đêm không ngủ được đâu. Mùng mền Mệ giặt sạch cất kỹ chỉ để cho khách. Mấy người trên phố lâu lâu về cũng thích nghỉ ở đây.

Thấy bà như muốn đi đâu Tôi vội hỏi:_ Giờ này mà mệ còn đi đâu à?_ Lần đầu tiên về quê, Tôi gọi mấy Mệ bằng tiếng Bà như trong miền Nam liền bị quở ngay.

_ À! Cô cứ ngủ đi! Mệ phải đi xuống xóm chơi với tụi nhỏ một chút, khoảng chín mười giờ mới về ngủ được, quen rồi.

Một mệ già gần tám mươi thích chơi với đám con nít trong xóm chài này, Tôi có nghe mấy Ông anh họ kể lại. Hồi chiều thấy Tôi một mình thơ thẩn trước sân nhà Bác, bà qua chơi nói chuyện rồi rủ Tôi sang liều tranh của bà ngủ lại. Rồi bà kể chuyện cuộc đời mình cho Tôi nghe, có lẽ thấy Tôi là nhà tu hành, bà tỏ ra thật ân cần thân mật:_ Thằng con của mệ nếu còn tu, năm nay cũng lên tới Thượng Toạ chi rồi.

Chuyện đời của bà là một trang tiểu thuyết buồn, như hầu hết những phụ nữ nhà quê khác ở vào giữa thế kỷ trước. Chồng bà đi kháng chiến rồi tập kết ra bắc, bà một nách nuôi hai con thơ và một bà mẹ chồng đau yêú. Thời khó khăn, bà làm đủ công việc từ làm nông trồng vườn, đan lát, đón ghe mua cá tôm đem lên phố bán để nuôi mẹ chồng nuôi con. Nhưng rồi đứa con gái bị bịnh mất sau đó mấy năm, còn Hoàng- con trai lớn của bà học hết cấp hai, bèn nằng nặc xin mẹ đi tu :_ Lúc ấy nó thường lên ngôi chùa ở xóm trên làm công quả, Sư Ông trụ trì rất thương nó. Lâu ngày thấm tương thấm chao, rồi đòi xuất gia luôn. Tôi vì cảnh một mẹ một không nở cách xa. Thấy con quyết tâm, hơn nữa mình cũng hiểu đạo. Con đi tu cũng là điều phước lộc cho cha mẹ. Nghiệp duyên nó ở chùa, mình đâu ngăn cản được. Hồi đó cả mấy xóm chài này chỉ có mỗi ngôi chùa đó mà cũng đã xưa cũ hư nát, nhưng bổn đạo rất thuần thành, xem việc chùa như việc nhà mình vậy.

_ Đi tu rồi Hoàng vẫn đi học văn hóa_ Hồi đó phải đi đò lên phố học. Về chùa Sư Ông dạy thêm kinh chữ Hán. Cậu nhỏ siêng năng và học rất khá. Tôi lúc ấy ngoài chuyện đồng áng ở nhà, mỗi ngày cũng lên xuống chùa phụ làm công quả, mà cũng là để lo cho con mình.

Mệ chợt ngừng lại, ánh mắt nhìn xa xăm như đang hồi tưởng lại bao chuyện đời đã qua.

_ Chuyện cậu Hoàng đi tu rồi thế nào hả Mệ? Tôi vội cất tiếng hỏi tiếp khi thấy bà yên lặng hơi lâu.

_À! Khi nó học xong Trung Học được đâu ít năm thì Sư Ông mất. Chùa chỉ có hai thầy trò, thế nên Hoàng được kế nghiệp trụ trì. Nó có học lại lanh lợi giỏi giang nên việc chùa cũng không có gì đáng nói. Lúc ấy thời sự bất ổn, cuộc sống dân cư miền biển rất khó khăn, nhưng cảnh chùa quê vẫn yên ổn, thâm tình thầy trò bổn đạo vẫn tới lui sâu đậm. Rồi thì đất nước thanh bình, cái buổi giao thời ấy có biết bao điều éo le thay đổi….

Bà lại im lặng. Cái im lặng để cố nhớ lại từng chi tiết và cũng là để che dấu bao xúc động trong lòng. Chuyện đã lâu lắm rồi. Cũng bởi người già thường sống với kỷ niệm nên mọi việc đối với bà dường như mới xảy ra. Đoạn tiếp theo Tôi đã được nghe mấy Ông anh họ nói qua. Tuy vậy tôi vẫn thích được nghe bà kể lại. Lúc mới gặp bà, Tôi có thiện cảm ngay. Một đời người sống trong nghèo khó, mang nặng nỗi buồn riêng tư, vậy mà nhìn bà vẫn toát lên một phong thái tự tại an nhàn, không khắc khổ như nhiều mệ già nhà quê khác. Bà lại có lối nói chuyện dễ thu hút người nghe. Giọng Huế miền biển mà sao vẫn nhẹ nhàng êm ái, vậy nên đám con nít rất yêu mến thích gần gũi bà.

Giải phóng về, điều bà chờ đợi đoàn tụ với người chồng xa cách suốt hai mươi năm đã không thể trọn vẹn. Ông ấy về quê mang theo một bà vợ và đàn con nheo nhóc khác. Thì thôi, thời chiến loạn và sự xa cách đằng đẳng như vậy cũng đâu thể trách ai được. Nhưng sự tình đâu chỉ có thế…

_ Tôi cực khổ một đời nuôi con, lại lo cho mẹ chồng khi bà đau yếu bịnh hoạn cho đến lúc mất đều chu toàn bổn phận dâu con mà không hề than thở nửa lời. Vậy mà…ngày Ông trở về chẳng có lấy một lời an ủi hỏi han, tôi cũng chẳng buồn lòng. Duyên nợ vợ chồng chỉ bấy nhiêu, tình không còn thì nghĩa có là gì đâu. Đằng này, Ông còn lấy quyền làm cha và quyền một cán bộ lãnh đạo, hăm doạ bắt buộc con Tôi hoàn tục…

_ Và Cậu Hoàng phải nghe lời hở Mệ?

_ Lúc đó, mấy thầy mấy cô còn trẻ bị giao động lắm. Thằng con Tôi cũng vậy. Ba nó cứ dụ dỗ thôi thúc, lại hứa hẹn đủ thứ. Thế là nó xiêu lòng. Nó hoàn tục rồi theo Ông vào Đà Nẵng mà chẳng thiết đến nỗi buồn đau của Tôi lúc ấy.

_ Bây giờ Cậu vẫn ở Đà Nẵng ?

_ Không! Thời gian đầu Ông cũng lo lắng kiếm cho nó công việc. Đâu vài năm nó lấy vợ. Hai cha con lại nãy sinh bất đồng, việc làm lại không phù hợp. Thế là nó bỏ vào Đồng Nai. Đến bây giờ vẫn làm rẫy làm nương vất vả lắm, con lại đông.

_ Thỉnh thoảng Cậu có về thăm Mệ chứ?

_ Ôi! Mười mấy năm rồi, nó không về lấy một lần. Lại cũng không thư từ thăm hỏi. Chúng nó chẳng hề nghĩ là mình còn bà mẹ phải sống lầm lũi nơi quê nhà, nương dựa vào bà con chòm xóm. Mà có lẽ vì không khấm khá gì, đâu còn mặt mũi trở về gặp ai.

Bà lặng lẽ nhìn ra cảnh trời đang sập tối. Hình như có cơn mưa bão từ ngoài biển khơi sắp đổ bộ vào đất liền. Dông bão cuộc đời và dông bão trong lòng người mẹ này có khi nào lặng yên. Bà khẻ thở hắt ra nói: _ Cái số Tôi nó vậy cô ơi! Cứ xem như mình không chồng không con để thoải mái sống với tháng ngày còn lại. Tôi bây giờ cũng chẳng lo buồn gì nữa. Sống nhờ bà con xóm làng, chết rồi cũng nhẹ nhàng ra đi. Ngày ngày lên chùa làm công quả, vui với đám con nít mà lòng già thanh thản an lạc. Hôm nay gặp cô là người tu hành, Tôi chạnh nhớ lại chuyện xưa nên nói lại chút đó thôi.

…Nửa đêm cả làng thức giấc giữa tiếng gió rít ghê hồn từ ngoài khơi vọng lại. Tiếp theo là mưa. Mưa như trút nước. Mưa tuôn tất cả mọi sức mạnh của đất trời xuống ngay vùng đá sỏi trơ gan này. Cơn bão đã đổ vào đất liền. Bà Thượng cũng trở dậy, thấp thỏm đi lại trong căn chòi. Nơi bà ở nằm trên cao, những năm lụt lớn nước chỉ mấp mé ngoài sân, căn chòi cũng trải qua bao mùa gió bão mà chẳng hề hấn gì. Nhưng nào bà có quan tâm cho sự sống còn của mình đâu. Bà đang lo lắng cho mấy đứa trẻ ở trên chùa. Ngôi chùa mà thằng con bà ngày trước từng làm trụ trì, có một thời gian bị bỏ hoang, làng xã phải cử người lên trông nôm hương khói. Mười mấy năm nay có thầy từ trên phố về trụ trì, sự sinh hoạt của bổn đạo mới có sinh khí nề nếp trở lại. Thầy có mở lớp học tình thương, để trẻ em nghèo được đến lớp. Lại có cả lớp nội trú, dành cho bọn trẻ nơi miền biển xa xôi ở luôn tại chùa để tiện việc học hành. Hằng ngày bà vẫn lên chùa làm công quả, phụ với mấy cô Bảo mẫu nấu ăn và chăm sóc bọn trẻ. Lúc rảnh, bà thường bày trò chơi và kể chuyện cho chúng nghe. Bà vốn có duyên nói chuyện mà. Tuổi già của bà không cô độc trong nỗi quạnh hiu, mà lúc nào cũng rộn rã tiếng cười nói. Bà vui với thôn xóm, với trẻ thơ. Cuộc sống của bà gắn liền trong niềm tin yêu của mọi người.

Từ sáng sớm, cư dân các vùng ven biển gồng gánh đưa nhau lên chùa tránh bão. Bà Thượng tất bật lo cơm nước cho dòng người tỵ nạn. Thầy trụ trì thì vận động đám trai tráng trong thôn ra ngăn đập và giúp đỡ những gia đình còn kẹt trong mưa lũ. Người lớn thì đủ thứ chuyện để lo lắng, còn bọn trẻ thì vô tư chạy giởn. Bà lại phải lo trông coi chúng, nhưng bận rộn quá bà không thể chơi hay kể chuyện, nhiều đứa nghịch ngợm cứ thích nhào ra ngoài mưa tắm, chẳng biết gì đến nguy hiểm. Cha mẹ chúng an tâm khi gởi con lên chùa. Chùa nằm trên đồi cao, mới xây cất lại rất chắc chắn. Mưa bão mùa này không lớn lắm, nhưng không phải là không có những mối đe doạ rình rập.

Trưa hôm đó…mưa đã tạnh, gió cũng bớt hoành hành. Nước ở các vùng thấp đã rút nhanh theo dòng chảy xiết ra sông biển. Bầu trời vẫn u ám như mọi ngày. Tôi ủ mình trong tấm chăn bông dày mà cái lạnh như từ ruột gan toả ra. Đang nghĩ tới chuyến trở về nhà ngày maiø, tôi chợt nghe tiếng xôn xao bên ngoài:_ Bà Thượng mất rồi, ở trên chùa ấy.

Sao lại như thế nhỉ? Tôi vùng ngồi dậy, theo mấy ông anh họ lên chùa.

Khi người ta đem được bà lên thì thân thể đã lạnh cứng, nhưng bà vẫn chưa chết. Đôi mắt đờ đẩn nhìn quanh, miệng khẻ thì thào:_Mấy đứa nhỏ. Cứu mấy đứa nhỏ.

Ai đó ghé vào tai bà nói:_ Mấy đứa nhỏ đã được cứu lên bình yên rồi. Để tụi con hô hấp cho bà…

_ Thôi khỏi… như vậy là được rồi….

Thế là bà ra đi… nhẹ nhàng không chút vướng bận. Nơi bờ ao sau chùa, tụi nhỏ chạy ra chơi đùa sau nhiều ngày bị bó gối trong nhà, rồi nhảy xuống tắm và bị hụt chân. Bà đi ra nhìn thấy, không chần chờ liền nhào xuống cứu. Tuổi già sức yếu, khi kéo được hai đứa lên thì bà chới với, nhưng còn mấy đứa nữa. Bà lướt đi trong dòng nước lạnh cóng và chảy xiết, cố đến nơi có những bàn tay đưa lên. Lúc này mọi người chạy ra…..

Cơn mưa bão suốt một tuần lễ rồi cũng dứt. Tôi chuẩn bị xuôi chuyến tàu trở về Nam mang theo ít nhiều nỗi niềm hoài hương cố quận. Lúc này làng xóm quê nhà mang một sắc buồn ảm đạm. Trận bão đã tàn phá nhiều nhà cửa ruộng vườn, làm hư nát nhiều đoạn đường nối qua các thôn xóm. Nhưng không khí thê lương đọng lại trong lòng mọi người ít nhiều chính là đám ma của bà Thượng, người duy nhất bị thiệt mạng sau cơn bão. Ngôi nhà lá xiêu vẹo, mái tranh gió đánh phần phật suốt ngày đêm vẫn còn đó, mà bà thì vĩnh viễn không quay về nữa. Bác Tôi bảo đám tang bà buồn và lớn nhất trong thôn từ nhiều năm nay. Không kèn trống tưng bừng, đứa con trai phương xa cũng không quay về kịp_ Có lẽ mưa bão đã làm trễ nãi đường xá thư tín. Người của mấy thôn đều tập trung đến để đưa tiển bà. Cả mấy lớp học tình thương cũng để tang cho Bà. Người ta buồn vì từ nay vắng đi tiếng nói nụ cười của bà, vắng đi sự ân cần vồn vả lúc nào cũng sẵn lòng vì mọi người. Tiếng tụng kinh ngân rền trong buổi chiều lặng sóng để đưa một người trở về nơi chốn thiên thu. Ai rồi cũng phải ra đi. Nhưng hình bóng của bà dường như vẫn còn đâu đó trong âm vang lòng người ở lại.

Mưa bão đã qua rồi. Mọi việc rồi cũng trôi nhanh theo lẽ tuần hoàn của năm tháng. Cánh hoa dù tàn, vẫn toả sắc hương. Đời người một khi trở về cát bụi vẫn để lại chút hương tình cho nhân thế. Những ngày lưu lại nơi miền quê hương đầy mưa giông gió bão này, Tôi đã cảm nhận ra được một lẽ sống tiềm tàng bất diệt, ngay giữa dòng đời sanh diệt bể dâu.

---o0o---

Trình bày:Nhị Tường

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/10/2010(Xem: 20432)
Mục đích của chúng tôi trong khi sưu tập những mẫu chuyện kể này là để mọi người thưởng thức những tinh hoa hay đẹp của giáo – lý qua những câu chuyện tươi sáng đẹp đẽ. Nếu công việc sưu tập ca – dao là một việc khó thì công việc sưu tập và trình bày những mẩu chuyện cổ của đạo Phật cũng là một việc khó khăn và đòi hỏi sự hợp lực của nhiều người. Hàng chục ngàn mẫu chuyện đạo, nào thuộc loại tiền thân, nào thuộc loại lịch sử, nào thuộc loại thí dụ, nào thuộc loại triết lý. . . những câu chuyện đó thật là phong phú và chứa đựng những tinh hoa của giáo - lý, từ - bi và trí tuệ. . . Ðọc những mẫu chuyện đạo ấy, không ai thấy chán nản cả. Các em thiếu nhi thích đã đành, người lớn chúng ta cũng vẫn thích và hơn thế nữa, lắm lúc cũng phải suy nghĩ nhiều để có thể hiểu được triết – lý của một câu chuyện. Chúng tôi sức lực không bao lăm thành thử trông mong rất nhiều ở các vị học giả thâm uyên và dày công nghiên cứu. Chúng tôi chỉ muốn làm công việc nói lên những nguyện vọng, và tr
22/10/2010(Xem: 3937)
Tại biên giới của tỉnh Tây Khương sát với Tây Tạng, có một bà lão sống cô độc, chồng và đứa con trai duy nhất của bà đã qua đời. Bà sống nhờ một thửa đất nhỏ trồng những hạt ngũ cốc. Vì cuộc đời đã trải qua nhiều gian truân từ nhỏ, bà lão cảm thấy nghiệp chướng trong người rất nặng nên đã cố công tìm hỏi những người chung quanh phương pháp chuộc tội để cầu xin cho tâm hồn được bình yên.
21/10/2010(Xem: 8623)
Bị xổng một lần trong khóa tu học kỳ 6 tại Bỉ, vì chọn ngày hè trật đường rầy (hãng tôi làm việc phải chọn hè từ đầu tháng 2); năm sau, tôi quyết tâm canh ngày giờ cho đúng để tham dự cho bằng được khóa tu học kỳ 7 tại Đan Mạch, do Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Âu Châu tổ chức.
19/10/2010(Xem: 8252)
Khi xe chúng tôi đến nơi, đồng hồ chỉ đúng 12 giờ khuya. Phòng ốc dành cho 300 giường đã không còn chỗ trống. Ban Tổ Chức đành trưng dụng phòng họp, phòng học - một cho phái nữ, một cho phái nam - với các tấm nệm lót dưới đất cho chúng tôi ngủ tạm. Giải quyết một lúc cho phái đoàn Thụy Sĩ 30 người - chưa kể các nước khác - đâu phải dễ. Vả lại đi chùa thì phải chấp nhận "ăn chay nằm đất". Nằm "đất" còn phải chịu, lựa là nằm "nệm", nên chúng tôi vui vẻ nhận lời, không than van gì cả. Mà than van nỗi gì được khi đã hiểu giáo lý (dù chút chút) của đạo Phật. Mọi sự phải do "duyên" mà có. Và "duyên" này khởi từ "nhân" chiều nay.
17/10/2010(Xem: 9731)
Hơn 6 tiếng xe lửa từ Aschaffenburg, tôi trở về đến nhà gần 10 giới tối. Lục đục tắm rửa, ăn chén súp nóng (do chồng nấu cho) huyên thuyên kể chuyện, rồi đánh răng... mãi gần 12 giờ khuya tôi mới lên giường đi ngủ. Sáng sớm hôm sau 6 giờ thức dậy sửa soạn đi... cày. Công việc ứ đọng của 2 ngày thứ 5, thứ 6 (lấy hè, cộng với công việc của thứ 2 đầy ắp trên bàn. Tôi một mình chịu trách nhiệm một phòng không ai thay thế). Ông xếp trước khi về văn phòng còn đứng đó chờ đợi, vẻ lo âu. Tôi trấn an ông:
17/10/2010(Xem: 4832)
Tết Trung Thu ăn vào ngày rằm tháng 8. Nguyên cuối đời nhà Tây Hán (206 trước 23 sau D.L.), Vương Mãng nhân được cầm giữ chính quyền...
17/10/2010(Xem: 2984)
Một vị thương gia lập nghiệp từ tay trắng, sau kiếm được rất nhiều tiền nhưng vì buôn bán trong thời kinh tế không ổn định, khiến anh ta trở nên phá sản, nợ nần chồng chất. Nghĩ mãi không tìm ra cách giải quyết, anh ta bèn ra bờ sông tự tử. Vào lúc canh ba một đêm nọ, anh ta đến trước bờ sông, bỗng nhiên nhìn thấy một thiếu nữ đang ngồi khóc thảm thiết, anh bèn đến hỏi cô gái: - Có chuyện gì mà đêm hôm khuya khoắt cô ngồi khóc một mình ở đây?
16/10/2010(Xem: 4138)
Hàng ngàn năm trước tây lịch, khi thổ dân Dravidian còn ngự trị khắp lãnh thổ Ấn Độ cổ thời, vùng phía tây Hy Mã Lạp Sơn là lãnh địa của rắn. Vốn là vùng rừng núi bạc ngàn nằm trên nóc nhà thế giới, Hy Mã Lạp Sơn là nơi thâm u bí hiểm với sơn lam chướng khí trùng trùng và vô số loài thú dữ cư ngụ sẵn sàng lấy mạng người để làm thức ăn. Thời đó, thổ dân Dravidian không có đủ vũ khí hùng mạnh để chống cự với các loài mãnh thú và tự bảo vệ mình. Từng người vào rừng săn tìm thức ăn đã không thấy trở về. Độc địa nhất không phải chỉ là những hổ, cọp, gấu, beo nằm lồ lộ chờ mồi bên bờ suối, dưới gốc cây hay trong khe đá, mà ngay bên dưới lớp lá khô mục của đường rừng là những loài rắn nguy hiểm chực chờ bước chân người.
16/10/2010(Xem: 3802)
Trong thiền không có đầu đuôi, khúc chiết, lý luận. Nó đập vỡ lý luận. Đó là thế giới lý tưởng của câu thơ lớp ba mồ côi luận lý. Thế giới của những câu cuối lấc cấc, mẹ gà con vịt. Đừng bắt tôi giải thích; hãy lang thang với tôi trong câu cuối của dăm ba chuyện thiền nổi tiếng.
16/10/2010(Xem: 3842)
Trong đời, tôi đã thấy mặt trăng lần nào chưa? Nhìn trăng, tôi nhìn cả đời. Nhưng thấy trăng, tôi không dám nói chắc. Khi tôi nhìn trăng trước mắt, tôi nghĩ đến trăng nửa khuya loáng thoáng trên tàu lá chuối sau vườn cũ. Tôi nghĩ đến đèn trung thu lúc nhỏ. Tôi nghĩ đến cái chõng tre giữa sân trên đó, ngày xưa, tôi nằm nhìn mây bay. Nhìn trăng, tôi không thấy trăng. Chỉ thấy lá chuối, chõng tre. Thấy cả tôi với trẻ con hàng xóm nô đùa. Có lần tôi trốn tìm với chúng nó, bị lộ, tôi nhảy bừa vào bụi tre, bất ngờ có đứa con gái đã ngồi sẵn trong đó. Tôi sợ hoảng, toan vọt ra thì nó kéo tay tôi lại, ấn vai tôi xuống, cười đồng lõa. Trong loáng thoáng của cây lá, tôi thấy hai cái răng cửa của nó sáng ngời ánh trăng. Bây giờ, nhìn trăng non, tôi thấy cái miệng và hai cái răng. Tựa như hai cái răng của nó phát ánh sáng và in hình miệng nó lên bầu trời.
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Most Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com
http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
[email protected]