Thư gởi Thầy phương xa.

10/04/201311:36(Xem: 5002)
Thư gởi Thầy phương xa.

Thư gởi Thầy phương xa

Thỉnh thoảng con mới gọi về Việt Nam để hầu chuyện với Thầy, thế mà lần nào con cũng nhõng nhẽo than van với Thầy là mỗi khi nói chuyện với Thầy xong , thì cái hầu bao của con nó lủng đi thật nhiều. Nhưng hôm nay, cái cảm giác lủng hầu bao của con không còn nữa, mà thay thế vào đó là một nỗi đau buồn nào đó thật mơ hồ mà ngay chính con, con cũng không nhận rõ được, sau khi được Thầy cho biết cặn kẽ những khổ cực của người dân ở các tỉnh miền Trung đang phải gánh lấy, sau những cơn hoành hành của từng cơn rồi lại từng cơn lũ lụt tới tấp phủ trắng cả những cánh đồng lúa vốn tự nó đã không được phì nhiêu vì những cơn hạn hán.

Thưa thầy, đã có một nỗi đau buồn thật quá đỗi chua xót trở về òa chập và bủa vây tâm tưởng của con, cho con tưởng chừng như mình đã không còn một lối thoát, khi con được xem những tấm hình Thầy đã chụp được khi Thầy đi cứu trợ ở Thanh Hóa. Thanh Hóa, tên gọi của một địa danh, chỉ có trong trí nhớ thật nhỏ nhoi của con qua những câu chuyện mà Mợ con thường đem ra tâm sự với con, mỗi khi người nhớ về một dĩ vãng xa xưa nhưng rất êm đềm của Cậu va Mợ. Ở nơi đó, tại hai ngôi làng vô cùng bé nhỏ và nghèo nàn, tên gọi là Đông Vệ và Cự Đà, nơi mà hai đấng sinh thành yêu quý của con đã sinh ra và lớn lên. Thưa Thầy, đó cũng là nơi mà cô Phật tử dốt đột của Thầy đã được ra đời và lớn lên trong vài tháng, nên chi nhỏ Phật tử dốt đột của Thầy chả biết gì hết về một nơi mà nhỏ đã được chào đời.

Thưa thầy, đã có một bài hát thật hay, thật buồn và cũng đã diễn tả được một phần nào sự nghèo khổ thiếu thốn của người dân miền Trung, vốn đã nghèo nàn, nay lại trắng tay trước sự tàn phá của những cơn bão tiếp tiếp đổ xuống làng quê tiêu điều xác xơ ấy.

Quê hương em nghèo lắm ai ơi

Mùa Đông thiếu áo, hè thời thiếu ăn

Trời rằng Trời hành cơn lụt mọi năm à a á

Khiến đau thương thấm tràn

Lấp Thuận An để lan biển khơi ơi hò ới hò...

Thưa Thầy, đó quê hương con nghèo lắm, mái tranh nghèo ngày nào tơi tả, nhưng cũng gọi là tạm đỡ chở nắng che mưa, nay lại bị vùi sâu dưới cơn cuồng nộ của đất trời. Quanh quanh đâu đấy, chỉ một màu nước trắng xóa, lưa thưa đâu đó một vài mái ngói ẩn hiện. Dân quê nghèo đã khô cằn những giọt nước mắt, nay có còn giọt lệ nào để khóc cho những điêu linh mà họ đang phải gánh gồng không, thưa Thầy.

Thưa Thầy, con rời xa quê cha xứ mẹ đã hơn ba mươi năm, và chưa một lần nào cho con chịu dừng bước chân lãng tử quay về thăm lại quê hương miền Trung, nơi mà những bông lúa không thể nào trổ nổi, bởi vì đất đai quá đỗi khô cằn ấy. Hôm nay, khi được nhìn những hình ảnh ấy, lòng con không sao khỏi bùi ngùi. Thương cho người dân miền Trung, quanh năm suốt tháng oằn mình đón nhận thiên tai trút xuống như những nghiệt ngã đời đời.

Thưa Thầy, chữ nghĩa ngôn từ giờ đây con xin thay thế bằng những gì con đã chắt chiu dành dụm đến Thầy, gọi là chút tình đến những người dân đã trải qua nhiều đau khổ. Con vẫn biết, những gì con gởi đến Thầy cũng ví như là một hạt cát trong lòng biển cả mênh mông và chắc chi đã đủ để giúp được ai, nhưng đó là cả một tấm lòng thương ái của con, thưa Thầy.

Con cũng không biết làm gì hơn là ngưỡng nguyện cầu Đức Mẹ Hiền Quan Thế Âm Bồ Tát từ bi gia hộ cứu giúp quê hương miền Trung điêu tàn tả tơi.

Một Phật Tử Dốt Đột của Thầy

Viên Tài

----o0o---

Trình bày: Nhị Tường

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/10/2010(Xem: 26686)
Mục đích của chúng tôi trong khi sưu tập những mẫu chuyện kể này là để mọi người thưởng thức những tinh hoa hay đẹp của giáo – lý qua những câu chuyện tươi sáng đẹp đẽ. Nếu công việc sưu tập ca – dao là một việc khó thì công việc sưu tập và trình bày những mẩu chuyện cổ của đạo Phật cũng là một việc khó khăn và đòi hỏi sự hợp lực của nhiều người. Hàng chục ngàn mẫu chuyện đạo, nào thuộc loại tiền thân, nào thuộc loại lịch sử, nào thuộc loại thí dụ, nào thuộc loại triết lý. . . những câu chuyện đó thật là phong phú và chứa đựng những tinh hoa của giáo - lý, từ - bi và trí tuệ. . . Ðọc những mẫu chuyện đạo ấy, không ai thấy chán nản cả. Các em thiếu nhi thích đã đành, người lớn chúng ta cũng vẫn thích và hơn thế nữa, lắm lúc cũng phải suy nghĩ nhiều để có thể hiểu được triết – lý của một câu chuyện. Chúng tôi sức lực không bao lăm thành thử trông mong rất nhiều ở các vị học giả thâm uyên và dày công nghiên cứu. Chúng tôi chỉ muốn làm công việc nói lên những nguyện vọng, và tr
22/10/2010(Xem: 6848)
Tại biên giới của tỉnh Tây Khương sát với Tây Tạng, có một bà lão sống cô độc, chồng và đứa con trai duy nhất của bà đã qua đời. Bà sống nhờ một thửa đất nhỏ trồng những hạt ngũ cốc. Vì cuộc đời đã trải qua nhiều gian truân từ nhỏ, bà lão cảm thấy nghiệp chướng trong người rất nặng nên đã cố công tìm hỏi những người chung quanh phương pháp chuộc tội để cầu xin cho tâm hồn được bình yên.
21/10/2010(Xem: 16004)
Bị xổng một lần trong khóa tu học kỳ 6 tại Bỉ, vì chọn ngày hè trật đường rầy (hãng tôi làm việc phải chọn hè từ đầu tháng 2); năm sau, tôi quyết tâm canh ngày giờ cho đúng để tham dự cho bằng được khóa tu học kỳ 7 tại Đan Mạch, do Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Âu Châu tổ chức.
19/10/2010(Xem: 15211)
Khi xe chúng tôi đến nơi, đồng hồ chỉ đúng 12 giờ khuya. Phòng ốc dành cho 300 giường đã không còn chỗ trống. Ban Tổ Chức đành trưng dụng phòng họp, phòng học - một cho phái nữ, một cho phái nam - với các tấm nệm lót dưới đất cho chúng tôi ngủ tạm. Giải quyết một lúc cho phái đoàn Thụy Sĩ 30 người - chưa kể các nước khác - đâu phải dễ. Vả lại đi chùa thì phải chấp nhận "ăn chay nằm đất". Nằm "đất" còn phải chịu, lựa là nằm "nệm", nên chúng tôi vui vẻ nhận lời, không than van gì cả. Mà than van nỗi gì được khi đã hiểu giáo lý (dù chút chút) của đạo Phật. Mọi sự phải do "duyên" mà có. Và "duyên" này khởi từ "nhân" chiều nay.
17/10/2010(Xem: 16644)
Hơn 6 tiếng xe lửa từ Aschaffenburg, tôi trở về đến nhà gần 10 giới tối. Lục đục tắm rửa, ăn chén súp nóng (do chồng nấu cho) huyên thuyên kể chuyện, rồi đánh răng... mãi gần 12 giờ khuya tôi mới lên giường đi ngủ. Sáng sớm hôm sau 6 giờ thức dậy sửa soạn đi... cày. Công việc ứ đọng của 2 ngày thứ 5, thứ 6 (lấy hè, cộng với công việc của thứ 2 đầy ắp trên bàn. Tôi một mình chịu trách nhiệm một phòng không ai thay thế). Ông xếp trước khi về văn phòng còn đứng đó chờ đợi, vẻ lo âu. Tôi trấn an ông:
17/10/2010(Xem: 8467)
Tết Trung Thu ăn vào ngày rằm tháng 8. Nguyên cuối đời nhà Tây Hán (206 trước 23 sau D.L.), Vương Mãng nhân được cầm giữ chính quyền...
17/10/2010(Xem: 5178)
Một vị thương gia lập nghiệp từ tay trắng, sau kiếm được rất nhiều tiền nhưng vì buôn bán trong thời kinh tế không ổn định, khiến anh ta trở nên phá sản, nợ nần chồng chất. Nghĩ mãi không tìm ra cách giải quyết, anh ta bèn ra bờ sông tự tử. Vào lúc canh ba một đêm nọ, anh ta đến trước bờ sông, bỗng nhiên nhìn thấy một thiếu nữ đang ngồi khóc thảm thiết, anh bèn đến hỏi cô gái: - Có chuyện gì mà đêm hôm khuya khoắt cô ngồi khóc một mình ở đây?
16/10/2010(Xem: 6880)
Hàng ngàn năm trước tây lịch, khi thổ dân Dravidian còn ngự trị khắp lãnh thổ Ấn Độ cổ thời, vùng phía tây Hy Mã Lạp Sơn là lãnh địa của rắn. Vốn là vùng rừng núi bạc ngàn nằm trên nóc nhà thế giới, Hy Mã Lạp Sơn là nơi thâm u bí hiểm với sơn lam chướng khí trùng trùng và vô số loài thú dữ cư ngụ sẵn sàng lấy mạng người để làm thức ăn. Thời đó, thổ dân Dravidian không có đủ vũ khí hùng mạnh để chống cự với các loài mãnh thú và tự bảo vệ mình. Từng người vào rừng săn tìm thức ăn đã không thấy trở về. Độc địa nhất không phải chỉ là những hổ, cọp, gấu, beo nằm lồ lộ chờ mồi bên bờ suối, dưới gốc cây hay trong khe đá, mà ngay bên dưới lớp lá khô mục của đường rừng là những loài rắn nguy hiểm chực chờ bước chân người.
16/10/2010(Xem: 6510)
Trong thiền không có đầu đuôi, khúc chiết, lý luận. Nó đập vỡ lý luận. Đó là thế giới lý tưởng của câu thơ lớp ba mồ côi luận lý. Thế giới của những câu cuối lấc cấc, mẹ gà con vịt. Đừng bắt tôi giải thích; hãy lang thang với tôi trong câu cuối của dăm ba chuyện thiền nổi tiếng.
16/10/2010(Xem: 5653)
Trong đời, tôi đã thấy mặt trăng lần nào chưa? Nhìn trăng, tôi nhìn cả đời. Nhưng thấy trăng, tôi không dám nói chắc. Khi tôi nhìn trăng trước mắt, tôi nghĩ đến trăng nửa khuya loáng thoáng trên tàu lá chuối sau vườn cũ. Tôi nghĩ đến đèn trung thu lúc nhỏ. Tôi nghĩ đến cái chõng tre giữa sân trên đó, ngày xưa, tôi nằm nhìn mây bay. Nhìn trăng, tôi không thấy trăng. Chỉ thấy lá chuối, chõng tre. Thấy cả tôi với trẻ con hàng xóm nô đùa. Có lần tôi trốn tìm với chúng nó, bị lộ, tôi nhảy bừa vào bụi tre, bất ngờ có đứa con gái đã ngồi sẵn trong đó. Tôi sợ hoảng, toan vọt ra thì nó kéo tay tôi lại, ấn vai tôi xuống, cười đồng lõa. Trong loáng thoáng của cây lá, tôi thấy hai cái răng cửa của nó sáng ngời ánh trăng. Bây giờ, nhìn trăng non, tôi thấy cái miệng và hai cái răng. Tựa như hai cái răng của nó phát ánh sáng và in hình miệng nó lên bầu trời.