Nhà sư hiến thân cho bầy đỉa để dân làng bình yên

16/08/201407:55(Xem: 6592)
Nhà sư hiến thân cho bầy đỉa để dân làng bình yên
Nhà sư hiến thân cho bầy đỉa để dân làng bình yên
Bùi Yên/Pháp luật Việt Nam

Đất đai phì nhiêu nhưng không ai dám khai phá do quá nhiều đỉa. Có vị sư giàu lòng thương dân đã phát nguyện dâng hiến thân xác của mình cho bầy đỉa bâu xé đổi lấy sự bình yên. Tương truyền vùng đất làng Thới Hòa (nay thuộc ấp 4, xã Tân Định, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương) vốn phì nhiêu nhưng không ai dám khai phá do quá nhiều đỉa. Có vị sư giàu lòng thương dân đã phát nguyện dâng hiến thân xác của mình cho bầy đỉa bâu xé đổi lấy sự bình yên.

Truyền thuyết nhà tu hành hiến thân
Chùa Tổ Đỉa được khởi tạo vào năm 1768. Chùa có tổng diện tích hơn 12.000 m2. Ngôi chùa không chỉ gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển 300 năm TP Thủ Dầu Một mà trong tâm thức người dân, chùa Tổ đỉa còn mang giá trị tâm linh. Sự hình thành cổ tự này gắn với giai thoại nhà sư Thiện Hiếu đã hiến mình cho con đỉa để nhân dân yên ổn sinh sống.

Theo sử lưu, sư thầy Thiện Hiếu vốn xuất gia tu hành tại một ngôi chùa ở quận Thủ Đức, sau đó đi hành đạo khắp nơi. Ngài đến khai lập chùa Linh Sơn ở núi Điện Bà (Tây Ninh) vào năm 1763. Từ Linh Sơn tự, nhà tu hành xuôi về vùng đất Thới Hòa (huyện Bến Cát). Thấy cảnh vật thanh tịnh, đồng ruộng thoáng mát nên ông dừng chân nghỉ mát dưới gốc cây trâm ở ven đường.
 
Trụ trì đời thứ 9 chùa Tổ Đỉa, Hòa thượng Thích Hồng Long (SN 1952) kể: “Thiền sư Thiện Hiếu thuộc bậc chân tu có công vun đắp cho nền Phật giáo miền Nam. Khi đó ngài ngồi thiền trong am nhỏ dưới gốc Trâm. Trước am là vùng đầm lầy (tiếng địa phương gọi là đìa nước) mênh mông, đất đai phì nhiêu nhưng người dân không dám đến khai phá vì đỉa nơi đây rất nhiều. Cứ mỗi khi ngài đến, dân làng lại cầu xin ngài dùng phép nhiệm mầu nhà Phật cứu giúp, ngài trả lời không có phép mầu như nhiều người vẫn thường ảo tưởng. Nhưng ngài hứa sẽ dùng thân xác mình hóa kiếp cho loài đỉa, để chúng không còn quấy phá con người nữa”.

Thấy dân chúng khổ cực, nghèo đói chỉ vì con đỉa, trâu bò còn không dám xuống ruộng ăn cỏ cũng vì sợ đỉa cắn, nhà tu hành thành tâm nguyện đức Như Lai được hiến thân cho bầy đỉa hút máu giúp dân chúng được yên ổn. Sau lời phát nguyện, vị sư chắp tay ngồi bất động giữa đồng nước hiến thân xác cho bầy đỉa tự do bu bám.

“Theo sử chùa ghi chép, có hàng ngàn con đỉa bâu đến cắn nhưng ngài vẫn ngồi im. Trong bầy đỉa xuất hiện một con rất to, toàn thân màu trắng (đỉa chúa) không chịu cắn phía dưới mà bò lên tận đầu ngài để hút máu. Ngài vẫn thiền định, chỉ tụng niệm thần chú”, Hòa thượng Hồng Long kể.

Trong chốc lát, con đỉa trắng bỗng dưng lăn ra chết, những con khác cũng chết theo, sau đó vị sư viên tịch. Điều kì lạ rằng, từ sau ngày hôm đó, vùng đồng ruộng nơi đây không còn bất kì con đỉa nào nữa. Từ đây, người dân yên ổn khai phá vùng đất màu mỡ cho đến bây giờ. Để tỏ lòng nhớ ơn vị thiền sư, dân làng quyên góp lập ra chùa thờ tự ông với tên gọi Long Hưng cổ tự. Chùa còn có tên Tổ đỉa, ý nói ngày trước vùng đất cổ tự toạ lạc là tổ đỉa khổng lồ.

Nhắc lại bậc tiền bối, Hòa thượng Hồng Long cho biết cố tổ sư thuộc cao tăng đời thứ 38 phái Thiền Lâm Tế. Danh tiếng thiền sư Thiện Hiếu vang khắp nơi, Phật tử từ các tỉnh tụ họp về chùa Tổ đỉa khấn nguyện tỏ lòng kính phục nhiều vô kể. Nhưng không hiểu tại sao, ngài không thu nạp đệ tử nào.

Sự linh thiêng ở chùa Tổ đỉa được người dân khu vực Tân Định kể lại với lòng tự hào, dù đó là những câu chuyện thực hư chưa thể kiểm chứng. Hiện nay, ngôi chùa không to lớn như các ngôi chùa khác nhưng vẫn giữ được vẻ trang nghiêm, cổ kính. Đến năm 2001, chùa Tổ đỉa được đại trùng tu và được tỉnh Bình Dương công nhận là di tích cấp tỉnh.

Cũng bởi tỏ lòng tôn kính với vị thiền sư hiến thân đổi lấy bình yên cho xóm làng, người dân cúng dường không ít các bảo vật quý hiếm. Một trong những bảo vật độc đáo được Phật tử dâng lên là ụ mối có hình Quan âm an toạ trên tòa sen. Sư trụ trì Hồng Long xác nhận: “Ụ mối này tự nhiên đụn lên trong nhà của Phật tử, không lý giải được hiện tượng lạ, họ đến nhờ nhà chùa xem giúp. Sau đó gia đình nọ có ý dâng Phật, nguyện làm việc thiện”. Cùng với ụ mối mang hình Quan thế âm, gia đình Phật tử này sau khi dời nhà đã mang đến hiến tặng nhà chùa hai bức tượng, một tượng Võ Tòng đả hổ và tượng Hai Bà Trưng cưỡi voi.

Mỗi ngày chùa Tổ đỉa thu hút rất nhiều khách thập phương đến lễ bái, khấn nguyện. Du khách đến chùa được hòa mình vào không khí trong lành với khuôn viên đầy cây xanh và rộng lớn, không gian tĩnh lặng, yên bình lạ thường.

Theo Bùi Yên/Pháp luật Việt Nam

Chùa Tổ Đỉa

Chùa Tổ Đỉa

Hòa thượng Thích Hồng Long kể lại truyền thuyết chùa Tổ đỉa

Hòa thượng Thích Hồng Long kể 

lại truyền thuyết chùa Tổ Đỉa

Bảng ghi lịch sử di tích ở chùa Tổ đỉa

Bảng ghi lịch sử di tích ở chùa 

Tổ đỉa

Ụ mối hình quan âm ngồi tòa sen người dân cúng dường

Ụ mối hình Quan âm ngồi tòa 

sen người dân cúng dường
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/02/2026(Xem: 369)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 417)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 1363)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 1013)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 1352)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 1049)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 1571)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 2871)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T
21/08/2025(Xem: 4363)
Anatha-pindika, một vị thủ quỹ giàu có, đã đến Đại Tự viện Jetavana để thăm Đức Thế Tôn. Ông mang theo năm trăm người bạn của mình, những đệ tử của các trường phái triết học khác. Sau khi bày tỏ lòng kính trọng và dâng cúng, ông cùng bạn bè ngồi nghe bài pháp của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn, với giọng nói mạnh mẽ như tiếng sư tử gầm và dịu dàng như chuỗi ngọc quý, đã thuyết giảng một bài pháp ngọt ngào và đẹp đẽ về Chân lý. Năm trăm đệ tử ấy cảm động đến mức họ từ bỏ niềm tin ngoại giáo, và bắt đầu quy y Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Từ đó, họ thường xuyên cùng Anatha-pindika đến chùa để nghe giáo pháp của Đức Phật.
11/08/2025(Xem: 3883)
Vô Bích động âm u mờ mịt, nó chẳng thuộc trời chẳng thuộc đất, nó không có tháng năm kiếp số thì nói chi đến thời khắc hay ngày giờ. Nó vốn là lãnh địa của lão Hades từ thuở hồng hoang đến giờ. Lão thường ngồi trên ngai bạch cốt, lúc nào cũng lim dim nhấm nháp ly hắc huyết hoàn tửu, đây là thức uống khoái khẩu của lão ta. Cái ly của y cũng rất đặc biệt, vốn chế tác từ thiên linh cái của bọn người ở nhân gian. Hắc huyết hoàn tửu là thứ mỹ tửu cực độc chỉ riêng Vô Bích động mới chế được. Mỗi khi Hades muốn gọi ai về chầu thì lão nhón ngón út chấm một giọt nhỏ lên sinh mệnh ai là người ấy lập tức vâng mệnh, xưa nay chưa có ai cưỡng được mệnh gọi chầu, dù đó là người cực thông minh hay quyền uy lớn nhất thế gian. Người đã như thế thì quỷ thần, phi nhân, súc sanh không cần phải nói nữa. Ngay cả những vị trời cũng chẳng thoát khỏi, dù đại phạm thiên thọ mạng tám vạn đại kiếp nhưng khi có mệnh thì hoa trên mão héo, thân thể tiết mùi hôi, thân quyến lìa xa... đó là dấu hiệu cho biết sắp đọa. S