24. Nước mắt Mẹ hiền

29/11/201115:17(Xem: 9609)
24. Nước mắt Mẹ hiền
TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO
TRUYỆN THƠ - TẬP 2
Tâm Minh Ngô Tằng Giao
Diệu Phương tái bản 2002

(24)

Nước mắt Mẹ hiền

Thuở xưa có một nhà buôn

Nghe lời biển gọi, căng buồm ra khơi

Nổi trôi buôn bán khắp nơi

Ghé bờ xa lạ, sống đời lênh đênh.

Hơn mười năm thoáng trôi nhanh

Nhà buôn giàu có, trở thành phú ông

Cửa nhà to đẹp vô cùng

Cạnh ngay bãi biển chập chùng sóng vang.

*

Vợ nhà buôn rất đảm đang

Nhưng trên nét mặt luôn mang vẻ buồn

Âu lo theo những chuyến buôn

Theo cơn bão tố dập dồn hiểm nguy

Chồng đi có mệnh hệ chi

Con thơ, vợ dại dễ gì sống yên,

Con trai lên sáu, lành hiền

Mẹ nhìn khuây khỏa nỗi niềm lo âu.

*

Một đêm thao thức canh thâu

Trời đông lạnh lẽo, mưa sầu tuôn rơi

Chồng đi buôn đã lâu rồi

Phương xa nhắn tiếng ngày mai trở về.

Vợ đang lo sợ tái tê

Chợt nghe biển động, bốn bề cuồng quay

Gió gầm vang, sóng dâng đầy

Thâu đêm, suốt sáng. Qua ngày hôm sau

Đoàn thuyền buôn chẳng thấy đâu

Mọi người ra bãi lo âu ngóng chờ

Mãi khi gần tối mịt mờ

Một thuyền sống sót ghé bờ mà thôi

Các tàu, thuyền khác đắm rồi

Vợ nhà buôn chợt rụng rời đớn đau

Chồng mình vùi xác biển sâu

Than ôi đất thảm, trời sầu là đây!

Tang thương ngất lịm thân gầy,

Còn bao hy vọng trút đầy vào con.

*

Thời gian như sóng dập dồn

Con nay khỏe mạnh, lớn khôn nên người

Chàng luôn nhìn biển xa vời

Như thầm mơ ước cuộc đời phiêu lưu.

Một hôm Chàng hỏi Mẹ yêu:

"Cha con thời trước đã theo nghề gì?"

Mẹ Chàng lo sợ, dấu che:

"Chỉ buôn trong nước, không hề đi xa!"

Chàng bèn theo gót giống Cha

Đi buôn quanh quẩn gần nhà mà thôi,

Tiền vàng được bốn đồng lời

Mang về biếu mẹ giúp người khó khăn.

*

Một hôm thiên hạ nói rằng:

"Cha Chàng từng có cửa hàng dầu thơm!"

Chàng bèn suy tính thiệt hơn

Đổi nghề, mở tiệm dầu thơm trong vùng

Lần này lời những tám đồng

Chàng đưa nhờ Mẹ cúng trong các chùa.

*

Có người lại nói: "Ngày xưa

Cha Chàng chuyên bán ngọc ngà, nữ trang!"

Chuyển qua nghề mới dễ dàng

Chàng lời mười sáu đồng vàng ngay thôi!

Chẳng cần buôn bán xa xôi

Chuyến sau lời được ba mươi hai đồng,

Mẹ mang giúp kẻ khốn cùng,

Và làm công đức khắp trong chùa chiền.

*

Cuối cùng có kẻ nói thêm:

"Bán buôn đường biển cũng nên theo nghề

Noi gương Cha thuở xưa kia!"

Lời gây kích thích! Chàng nghe bồi hồi!

Vẳng như tiếng gọi biển khơi

Trùng dương thách đố chí người thanh niên.

Bán vàng, gom vốn, mua thuyền

Chuyến này lòng quyết buôn miền xa xôi,

Chàng về tìm Mẹ trình lời

Mẹ nghe sửng sốt, lệ rơi hãi hùng!

Mẹ ngăn: "Nguy hiểm vô cùng

Cha con đi biển đã từng vùi thây

Khổ đau lòng Mẹ còn đầy

Nỡ nào bỏ Mẹ lất lây một mình!

Con đi trời biển lênh đênh

Mẹ buồn khô héo chắc đành chết thôi!"

*

Thanh niên chẳng chịu nghe lời

Quyết tâm! Cãi Mẹ!Ra khơi! Căng buồm!

Rủ thêm thuyền bạn đi buôn

Cùng nhau gom lại một đoàn thật đông.

Mẹ nhìn cảnh tượng não lòng:

"Trước Cha đã vậy! Giờ con khác nào!"

Mẹ lăn xuống đất thảm sao

Ôm chân con lại, khóc gào cản ngăn,

Thanh niên thoáng chút băn khoăn

Thế rồi cương quyết rút chân ra liền

Bước qua đầu của Mẹ hiền

Không quay nhìn lại. Xuống thuyền ra đi.

Mẹ ngồi dậy, dẹp sầu bi

Sợ con quả báo nên chi nguyện cầu:

"Cầu con may mắn dài lâu

Tai qua, nạn khỏi, trước sau an bình,

Mong con vẫn hái quả lành

Dù ngang đầu Mẹ nỡ đành bước qua!"

*

Đoàn thuyền vượt sóng ra xa

Bình an vô sự trong ba ngày đầu,

Vài ngày sau giữa biển sâu

Gặp cơn bão lớn thuyền, tàu nát tan,

Thanh niên may mắn vô vàn

Đeo trên tấm ván trôi ngang xác người

Dạt vào bến lạ xa vời

Một mình lê bước tìm nơi an lành.

*

Mấy ngày vất vả trôi nhanh

Tới thành phố nọ. Vây quanh đón chào

Bốn nàng Tiên đẹp xiết bao

Mời Chàng ở lại vườn đào chung vui

Hưởng nhiều lạc thú trên đời

Mỗi Tiên trang điểm đeo nơi ngực nàng

Một đồng tiền lấp lánh vàng

Giống tiền Chàng biếu Mẹ Chàng trước đây.

Ít ngày hưởng lộc vui vầy

Chàng rời Tiên nữ nơi này. Rong chơi!

*

Ghé vào thành phố thứ hai.

Tám Tiên chào đón lả lơi, dịu dàng.

Điểm trang trên ngực tám nàng

Tám đồng tiền giống tiền vàng ngày xưa.

Hưởng vui, hưởng lộc say sưa

Rồi Chàng lê gót giang hồ đi xa.

*

Ghé vào thành phố thứ ba

Bao Tiên đẹp đẽ ùa ra đón mời

Mười sáu nàng. Đẹp tuyệt vời.

Thân người quyến rũ, ngực người điểm trang

Đủ mười sáu đồng tiền vàng

Hết lòng cung phụng cho Chàng sớm trưa.

*

Lãng du quen thói đẩy đưa

Chàng vào thành phố thứ tư đông người

Một bầy Tiên nữ xinh tươi

Xiêm y lộng lẫy, ba mươi hai nàng

Ba mươi hai đồng tiền vàng

Tiên đeo trước ngực, nhịp nhàng múa ca

Đón Chàng trong cánh tay ngà

Linh đình yến tiệc, nguy nga cung đình

Đồng vàng phô sắc lung linh

Khiến Chàng nhớ lại chuyện mình xưa kia

Tiền lời đưa Mẹ cúng đi

Giờ đây phước đức hưởng về đẹp thay!

Chỉ gần Tiên được ít ngày

Rồi Chàng lại muốn chia tay các nàng

Dù Tiên hết sức khuyên can

Vẳng như có tiếng gọi Chàng thiết tha!

*

Chuyến này đi thật là xa

Tới thành phố nọ mở ra đón chào

Bước qua cửa sắt Chàng vào

Cửa liền đóng lại, vách cao bốn bề,

Dấn thêm một quãng đường đi

Chợt nhìn cảnh tượng gớm ghê rùng mình,

Một người đang chịu cực hình

Trên đầu phải đội một vành sắt nung

Sắt đang cháy đỏ phừng phừng

Khiến bao máu mủ không ngừng tuôn rơi.

Thương tâm Chàng hỏi đôi lời

Nạn nhân kể lể: "Luật trời tránh đâu!

Ta từng làm Mẹ khổ đau

Giờ đây quả báo trước sau đến liền

Chịu hình phạt khổ triền miên

Chờ người bất hiếu thay phiên gánh giùm!"

*

Chàng đang suy nghĩ mung lung

Chợt đâu vành lửa bập bùng bay qua

Chụp lên đầu, nóng cháy da

Máu tuôn, khói bốc thật là thảm thương.

Người kia trở lại bình thường

Tai qua, nạn khỏi, vết thương đã lành,

Nhắn Chàng: "Bạn chịu cực hình

Đến khi có kẻ thay mình ghé đây!".

*

Chao ơi! Đau đớn dâng đầy

Da này lửa cháy! Thịt này sắt nung!

Tuy Chàng khổ sở vô cùng

Nhưng lòng tự nghĩ: "Ta đừng trông mong

Cực hình cứ mãi xoay vòng

Phải nên chấm dứt ngay trong kiếp này,

Đừng ai chịu cảnh đọa đầy,

Đừng ai làm Mẹ hao gầy khổ đau!"

Chàng bèn khe khẽ nguyện cầu:

"Tôi xin phát nguyện trước sau một lời

Đội vành này mãi trên đời

Cực hình gánh chịu cho người trần gian!".

*

Tình thương nở đẹp vô vàn

Trong lời phát nguyện chứa chan tâm thành

Khiến Chàng hưởng phước thật nhanh

Tội tình giải thoát, cực hình tiêu tan,

Vành nung kia loé ánh vàng

Đột nhiên rời khỏi đầu Chàng bay cao

Chàng lành lặn như thuở nào

Quay về cuộc sống với bao an lành.

Mẹ như hiện giữa mây xanh

Dịu dàng vẫy gọi con nhanh trở về.


(phỏng theo bản văn xuôi của Quảng Huệ)
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
11/09/2013(Xem: 5854)
Hân tra chìa khóa, mở cửa bước vào phòng làm việc. Căn phòng khá rộng. Diện tích gấp hai sân bóng rổ hầu hết chứa kệ vải. Ở một góc sát cửa sổ nhìn ra ngọn đồi cỏ là chỗ làm việc của Hân với Susan, chiếm 1/6 căn phòng, có một bàn dài, kế đó là những dãy kệ chứa nú
11/09/2013(Xem: 7626)
Hằng năm vào tháng mười, sinh nhật tôi, tôi có thông lệ, trước tiên là tự nhắc mình đóng tiền niêm liễm đến Văn Bút Âu Châu (tôi là hội viên mà), kế đó là cố nặn óc tìm một truyện ngắn về đề tài Sinh Nhật coi như món ăn tinh thần "đãi" quí vị độc giả.
10/09/2013(Xem: 8072)
Một lần nữa, chẳng quản đường xá xa xôi, thời gian, công sức, tôi tìm về tu viện Viên Đức Đức quốc không những gặp lại nhị vị Đại Đức Thích Hạnh Đức, Đại Đức Thích Hạnh Tuệ, tôi đã may mắn tiếp thụ tài thuyết giảng của hai Thầy; một người giảng thật nhẹ nhàng nhưng sâu, một người giảng lôi cuốn hấp dẫn trong khoá tu học do anh em Gia Đình Phật Tử Thụy Sĩ tổ chức vào dịp lễ Phục Sinh hằng năm vừa qua, mà còn hân hoan chào đón thêm 6 vị trong phái đoàn “Hoằng Pháp Âu Châu” do Hòa Thượng Phương Trượng Thích Như Điển tổ chức, một lực lượng hùng hậu chưa từng có từ trước đến nay. Nhìn trong danh sách giảng huấn của phái đoàn, tôi gọi đùa, toàn “Cao thủ võ lâm!” mặc dù không ai là võ sĩ cả mà là tu sĩ!
10/09/2013(Xem: 9291)
“Hậu sinh khả úy“ (kẻ sanh sau thật đáng nể sợ) là câu nói của ngài Khổng Tử, một triết gia Trung Hoa thốt ra khi ngài cùng học trò đi dạo thấy một em nhỏ vọc gạch cát xây thành giữa lối đi, ngài bảo: “Tránh chỗ cho xe ta qua“. Đứa nhỏ đứng dậy, đáp: “Xưa nay, xe tránh thành, chứ thành nào lại tránh xe“. Thấy đứa nhỏ đối đáp thông minh, Khổng Tử xuống xe cùng bé trò chuyện, đưa ra nhiều câu hỏi rất khó khăn, đứa bé đều trả lời thông suốt
09/09/2013(Xem: 7258)
Đối với những ai đã từng ghé Ấn Độ, nghe ngóng, tìm hiểu, quan sát, hẳn không xa lạ gì với thế giới của lực lượng Tăng Ni sinh viên Việt Nam đang du học tại đó. Nhưng với riêng tôi, cho mãi năm 2011 trong chuyến hành hương Tích Lan, tôi mới thực sự biết được bằng mắt thấy tai nghe thế giới lạ đó qua sự giới thiệu của Hòa Thượng Phương Trượng chùa Viên Giác về bốn sinh viên tu sĩ, học tăng từ Ấn Độ.
09/09/2013(Xem: 6916)
Nói đến, viết đến các khóa học Âu Châu, bao năm qua cây viết của tôi đã gần mòn, đã có nhiều bài viết về khóa học, viết đến độ không còn gì để viết. Nào ăn, nào ngủ, nào học, nào chơi... đủ cả. Khỏe cả bên trong, tốt lẫn cả bên ngoài. Thế thì lần này sẽ viết về gì đây?! Xin thưa, viết về “Thiên Đường Hạ Giới“ ạ.
06/09/2013(Xem: 6182)
Từ chùa Từ Đàm, tôi trở lại khóa học, nơi tổ chức khóa tu Âu Châu của mười ngày qua. Sân trường giờ vắng hoe. Thảm cỏ xanh dẫn ra con đường lớn, không còn một bóng người. Vài băng ghế nằm rải rác trên sân cỏ cũng đìu hiu như nhớ, như chờ ai. Bên trong trường học lưa thưa sót lại một số người đang dọn dẹp và một số đang đợi chuyến bay cho ngày hôm sau khi khóa học bế giảng. Hằng ngàn người, mới đó mà...biến mất. Biến như một cơn gió thoảng qua.
06/09/2013(Xem: 15082)
Lý số, đông y là nghề của bố chồng tôi. Không rõ nhờ cụ thực tài hay tại hành nghề miễn phí, không nhận thù lao của khách nên khách của cụ khá đông. Một ngày, năm đó tôi vừa 23 tuổi, có một vị khách đặc biệt đến nhà giữa lúc bố tôi đi vắng. Vị khách tướng tá khác phàm, râu tóc bạc phơ, cốt cách như một tiên ông. Cụ mặc chiếc áo dài the, đầu đội khăn đóng như bố chồng tôi vậy, tay cụ cầm gậy trúc và tự xưng là bạn của bố tôi mặc dù xưa nay tôi chưa hề gặp cụ bao giờ. Tôi mời cụ vào nhà.
29/08/2013(Xem: 16657)
Năm 1983: chúng tôi cạn kiệt khi mua xong đất làm tự viện mà còn thêm nợ nữa. Mảnh đất thật trơ trọi, không nhà cửa, một túp liều cũng không, Suốt mấy tuần lễ đầu chúng tôi phải ngủ trên cánh cửa cũ mua rẻ trong bãi phế liệu. Chúng tôi kê bốn góc gạch làm giường (dĩ nhiên làm gì có nệm – chúng tôi tu ở rừng mà!).
27/08/2013(Xem: 14988)
Tại một xứ Hồi giáo nọ, có một người đàn ông bị vua truyền lệnh treo cổ vì đã ăn cắp thức ăn của một người khác. Như thường lệ, trước khi bị treo cổ, tù nhân được nhà vua cho phép xin một ân huệ. Kẻ tử tội bèn xin với nhà vua như sau: "Tâu bệ hạ, xin cho thần được trồng một cây táo. Chỉ trong một đêm thôi, hạt giống sẽ nảy mầm, thành cây và có trái ăn ngay tức khắc. Ðây là một bí quyết mà cha thần đã truyền lại cho thần. Thần tiếc là bí quyết này không được truyền lại cho hậu thế".