16. Phụ Trương - Phật Mẫu

28/08/201117:10(Xem: 4501)
16. Phụ Trương - Phật Mẫu

Diệu Nga
DỐC MƠ ĐỒI MỘNG
Tu Viện Trúc Lâm Canada Xuất Bản PL. 2547 DL. 2003

Phật Mẫu

Thông thường, Phật tử chúng ta hay kể cho nhau nghe về những truyền thuyết khi Thái Tử Tất Đạt Đa ra đời nơi vườn Lâm Tì Ni. Những biểu hiện kỳ lạ khi Thái tử ra đời rất đáng được truyền tụng và hiểu rành rẽ về cả sự lẫn lý, nên bằng cách này, quí vị đã và đang làm sống dậy ngày Phật Đản cách đây hơn hai mươi lăm thế kỷ. Duy còn một điều khác cũng không kém phần quan trọng trong cuộc đời của Thái Tử Tất Đạt Đa, ấy là mẹ của ngài, bà Ma Gia phu nhân, tưởng cũng nên được biết đến một cách rõ ràng.

Chúng ta chỉ biết Ma Gia phu nhân là con gái của vua A Loa Tích Ca và là vợ của vua Tịnh Phạn. Khi sắp đến ngày sinh đứa con đầu lòng, theo phong tục của xứ Ấn Độ thời bấy giờ, Ma Gia phu nhân trở về quê mẹ để sinh nở. Trên đường đi, ngang qua vườn Lâm Tì Ni, phu nhân thấy phong cảnh ở đây xinh đẹp lạ thường, hoa nở phô bày hương sắc dịu dàng tươi thắm, chim chóc líu lo ca hót đón mừng. Phu nhân truyền lịnh xa giá ngừng lại cho bà ngoạn cảnh và nghỉ ngơi. Chính nơi đây, trong khi bà vói tay hái cành hoa, thái tử ra đời. Thời gian ngắn sau đó, bà từ trần, có lẽ vì phu nhân qua đời quá sớm nên trong lược sử đức Phật Thích Ca cũng ít đề cập đến Ma Gia phu Nhân.

Nhưng trong kinh Hoa Nghiêm, phẩm Nhập Pháp Giới, khi Thiện Tài đồng tử đến cầu đạo Bồ Tát với Ma Gia phu nhân trên cung trời Đao Lợi, chính Ma Gia phu nhân đã nói với Thiện Tài rằng:
- Ta đã thành tựu môn “Giải Thoát Bồ Tát Đại Nguyện Trí Huyễn” do đây ta thường làm mẹ của Bồ Tát. Từ hông bên hữu, ta đã sanh Thái Tử Tất Đạt Đa, hiện bất tư nghì thần biến tự tại. Trong thế giới hải này, tất cả Tỳ Lô Giá Na Như Lai đều vào thân ta mà thị hiện đản sanh thần biến.
Thiện Tài bạch rằng:
- Đại Thánh được môn giải thoát này đã bao lâu?
Ma Gia phu nhân nói:
- Thiện nam tử! Cách đây bất khả tư nghì kiếp số, có kiếp tên là Tịnh Quang, thế giới tên là Tu Di Đức. Nơi đây có vị Chuyển Luân Vương tên là Đại Oai Đức ngự trị.

Thời ấy có Bồ Tát Ly Cấu Tràng đang ngồi kiết già nơi đạo tràng, sắp thành bậc Đẳng Chánh Giác thì bị ma vương cùng quyến thuộc đến bao vây định quấy nhiễu. Chuyển Luân Vương Đại Oai Đức dùng thần thông tự tại, biến hóa vô số binh lực kéo đến đạo tràng. Ma quân thấy thế sợ hãi và tan rã. Nhờ đó Bồ Tát Ly Cấu Tràng thành bậc Vô Thượng Chánh Giác.
Bấy giờ có vị thần nơi đạo tràng tên là Từ Đức, thấy sự việc xảy ra, lòng hoan hỉ vô lượng, đối trước Phật phát nguyện rằng: “Chuyển Luân Vương này chẳng luận sanh chỗ nào, nguyện tôi đều làm mẹ của vương, nhẫn đến đời vương thành Phật cũng vậy”.
Vị thần Từ Đức chính là tiền thân của ta, còn Chuyển Luân Vương Đại Oai Đức là tiền thân của Đức Tỳ Lô Giá Na Như Lai. Do lời phát nguyện ấy, về sau ta đời đời làm mẹ của ngài. Vô Lượng chư Phật sắp thành Đẳng Chánh Giác cũng đều chọn ta làm mẹ cho tối hậu thân của các ngài.

Niệm niệm nguyện vi chư Phật Mẫu
Sinh sinh thị tác nữ hoàng thân”
(Bách thành yên thủy)

Tạm dịch:
Niệm niệm nguyện làm chư Phật Mẫu
Đời đời mong được nữ hoàng thân”

Nhứt Sanh Bổ Xứ là bậc Bồ Tát đã ở ngôi vị bất thoái chuyển, tâm đã tự tại giải thoát nhưng khi thị hiện ở cõi Ta Bà ở kiếp sau rốt (tối hậu thân) để hàng phục ma vương và chuyển bánh xe pháp hầu viên thành quả vị Phật, ngài cũng phải nương vào Đại Trí Huyễn (được biểu tượng bằng hình ảnh của Ma Gia phu nhân). Tại sao Bồ Tát phải nương vào Đại Trí Huyễn khi tế độ quần sanh trong cõi ngũ trược ác thế này?

Bước vào ngôi nhà lửa của chúng sanh, hành giả phải dùng Đại Trí Huyễn để tự trang nghiêm mới có thể thong dong đi cùng khắp. Tại sao thế? Bởi vì nếu chấp có cảnh thật, người thật thì cảnh dễ làm não lòng người: nào thành, nào bại, nào đắng, nào cay, nào thương, nào ghét… mỗi mỗi sự đều lưu lại trong tâm khảm hành giả một ấn tượng khó phai khiến cho tâm người bị dính chặt vào thế giới của sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, làm sao có thể siêu quá thế gian mà cứu độ chúng sanh?
Bồ Tát khi giữ vững tâm niệm “Tu như huyễn pháp, hành như huyễn sự” thì lòng dạ rảnh rang vì không dính mắc vào đâu. Nếu tất cả chỉ là mộng ảo thì có ai phân biệt, thủ xả làm chi những điều xảy ra trong các giấc mộng?

Nhân gian là cảnh mộng, thế nhân là người mộng; Bồ Tát cũng vì cơn mê dài của chúng sinh mà phải dùng nhiều pháp môn phương tiện để thức tỉnh họ: vì mộng nên phải nói, vì mộng nên phải làm, một khi tất cả đều tỉnh dậy rồi thì nào có ai là Bồ Tát, đâu có kẻ làm phàm phu, cũng đâu có pháp môn tu, đâu có thuyền độ khổ!
Nhờ buông bỏ hết mọi thật chấp nên Bồ Tát được thong dọng tự tại trong mọi tình huống của cuộc đời, trong mọi cảnh giới mà mình thọ sinh.
Bởi thế, tất cả các Bồ Tát, nếu muốn thành tựu đại hạnh, đại nguyện đều phải nhờ nơi ĐẠI TRÍ HUYỄN. Đó là lý do vì sao những tối hậu thân của các Bồ Tát đều nhận Ma Gia phu nhân làm mẹ của mình (Màya cũng có nghĩa là ảo hóa).

Ngoài Ma Gia phu nhân là người mẹ của báo thân và ứng thân, chư Phật ba đời còn có người mẹ tinh thần tối cao, tối thắng, tối diệu, đó là Bát Nhã Ba La Mật. Kinh Đại Bát Nhã phẩm Phật Mẫu, phần thượng, có đoạn như sau:
“Vì pháp thậm thâm Bát Nhã Ba La Mật thường hay sanh ra chư Phật, cũng hay giúp cho chư Phật phát triển Nhất Thiết Trí, cũng hay chỉ bày các tướng trạng thế gian nên chư Phật thường dùng Phật nhản chú tâm vào pháp Bát Nhã Ba La Mật này”. Hoặc là:
“Này ông Tu Bồ Đề, sở dĩ chư Phật thành tựu đạo quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, hoặc đã, đang hay sắp đắc quả đều do nương vào nhơn duyên pháp thậm thâm Bát Nhã Ba La Mật này mà được thành tựu”.

Vì sao Bát Nhã Ba La Mật là người mẹ tối cao của ba đời mười phương chư Phật?
Chúng ta biết rằng tâm chúng sanh vốn rỗng không, vô tướng, vô nhiễm và rộng lớn vô biên nhưng vì chúng sanh bị vướng mắc, bị ràng buộc vào chỗ trụ trước nên phát ra tà kiến, biên kiến. Do có tà kiến, biên kiến nên ngã chấp, pháp chấp ngày càng kiên cố khiến cho tâm loạn động. Tâm loạn động luôn luôn biến đối theo hoàn cảnh và làm cho chúng sanh trôi lăn trong vòng sinh tử luân hồi. Những vị Bồ Tát từ đệ thất địa trở xuống sở dĩ chưa chứng được ngôi vị Bất Thối Chuyển cũng vì tâm loạn động (vi tế, nhỏ nhiệm chứ không thô thiển như phàm phu). Pháp thậm thâm Bát Nhã phá trừ tất cả những kiến chấp nhị biên (chấp thường, chấp đoạn, chấp hữu, chấp vô v.v…) lại phá bỏ hết 60 loại tà kiến của chúng sanh để hiển bày tướng NHƯ của các pháp, vốn bất tận, bất hoại. Chư Phật nhờ thân chứng tướng NHƯ này mà viên thành đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác nên chư Phật cũng gọi là Như Lai.

Hành giả tu học Phật pháp mà tin hiểu và thấu rỏ được tướng NHƯ này chẳng những không bị thối chuyển trong đạo Bồ Đề mà còn có thể tiến thẳng lên ngôi vị Phật, vì những hành giả này đã và đang làm con của Bát Nhã Ba La Mật.

Chúng ta ai cũng thấy rằng ánh đạo vàng vẫn luân chuyển như vầng thái dương, không bao giờ ngừng chiếu sáng. Đồng thời chúng ta cũng tưởng nhớ công đức của những vị Phật Mẫu đã sinh thành và trưởng dưỡng Nhất Thiết Trí của chư Phật. Đối với Phật Mẫu Ma Gia, nguyện chúng con nương vào năng lực của pháp môn Như huyễn phá trừ nghiệp chấp. Đối trước Bát Nhã Ba La Mật, nguyện chúng con phá trừ vô minh, thấu tỏ “mày mặt thật” để có thể vào nhà Như Lai và gánh vác công việc của Như Lai, làm muôn vàn lợi ích cho chúng sanh với tâm hồn sáng trong, vô trước nhiễm…

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28/09/2018(Xem: 10658)
Cực tịnh sanh động (Truyện tích của HT Thích Huyền Tôn kể, do Phật tử Quảng Tịnh diễn đọc) Cách đây 28 năm (1973), hồi đó tôi 16 tuổi (1945), nghe kinh Bát Nhã và pháp Bảo Đàn, bỗng nhiên lòng tôi không còn luyến tiếc gì bản thân và muốn xa lìa tất cả để lên non cao tu luyện. Tôi đem ý nguyện ấy thưa với Bổn sư là Hòa thượng Diệu Quang, Tổ thứ sáu của Tổ đình Thiên Ấn và là vị khai sơn chùa Viên Giác núi Thanh Thanh - nơi tôi đang tu học.
26/09/2018(Xem: 6238)
Một anh chàng thanh niên lái xe mô tô rất là tài giỏi. Không cờ bạc, không hút sách, không rượu chè, anh ta có một thú đam mê duy nhất : lái xe mô tô. Đúng là một đức tính rất tốt cho các luật lệ giao thông rất nghiêm khắt ở xứ sở Kangaroo này. Thế nên bao năm qua vượt nhanh cũng nhiều, lạng lách cũng lắm, chưa bao giờ anh gây ra tai nạn nào, mà cũng chưa hề một lần phạm luật bị phạt vi cảnh.
26/09/2018(Xem: 9548)
Truyện kể rằng, ngày xưa có gia đình ông Trương Công Nghệ, họ hàng sống với nhau chín đời : cố, ông, bà, con, cháu, chắt, chít ... tính sơ sơ trên dưới trăm người, lúc nào cũng rất mực yêu thương, rất mực thuận hòa, vui vẻ và êm ấm, chẳng bao giờ thấy họ gây gỗ, ganh đua hoặc lục đục chia lìa và xa cách nhau.
24/09/2018(Xem: 11987)
Audio Truyện Cổ Tích: Chín Mươi Ba Kiếp Mới Gặp Lại Con; Việt dịch: HT Thích Huyền Tôn; diễn đọc: TT Thích Nguyên Tạng -- Vào khoảng thời gian hai mươi năm sau Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni nhập diệt, Từ thành Tỳ-Xá-Ly hướng về phía Bắc Thành Ca-Tỳ-La-Vệ. Có một đoàn Tăng lữ gồm 17 vị, họ bước những bước chân nhịp nhàng và đều đặn, tuy không phát ra tiếng động của nhiều bàn chân cùng nện xuống mặt đất bột khô dưới sức nóng của mùa hè oi bức, nhưng không sao tránh khỏi lớp bụi bủn tung tỏa dưới sức dẫm của 34 cái bàn chân, tạo nên một đám mây cuồn cuộn; từ xa, tưởng chừng như các tiên nhân vừa từ trên không đằng vân vừa đáp xuống. Mây bụi vẫn cuộn trôi về phía sau lưng của họ, mặt trời càng rực đỏ và nghiêng hẳn về hướng tây, đến ngã rẽ, trước mặt họ là rừng cây khô trụi lá, một con quạ cô đơn ngoác mỏ kêu: Quạ! Quạ! Quạ!
11/09/2018(Xem: 6265)
Phía Bắc Trung Ấn Độ, vào thời cổ xưa, hơn 2000 năm, có một vị Thủ Tướng của nước Ba-la-nại, gia sản của ông rất là giàu có, quyền tước lớn, nhưng lòng ông luôn mang một nỗi niềm đau khổ. Vì, tuổi tác càng ngày càng già, tuy nhiều vợ, nhưng không một bà nào đem về cho ông một niềm vui mà ông mãi hoài mong thao thức, đó là một đứa con trai.
24/08/2018(Xem: 7513)
Kịch : Tôn Giả Vô Não Biên soạn và đạo diễn: Trần Thị Nhật Hưng Hai màn Diễn viên: Sư phụ, sư mẫu,Vô Não và vai Đức Phật. Lời giới thiệu: Kính thưa Quí vị Là Phật tử, hẳn chúng ta đã từng nghe về nhân vật cắt 1000 ngón tay, xâu đeo vào cổ. Đó là chuyện tích Phật giáo nói về ngài Vô Não mà Đức Phật đã chuyển hóa thành một người tốt và trở thành đệ tử của Phật, về sau còn đắc quả A La Hán nữa. Hôm nay trên sân khấu này, chuyện tích đó sẽ được kể lại dưới ngòi bút của Trần Thị Nhật Hưng qua sự diễn xuất một cách sống thực của... Kính mời Quí vị theo dõi. Đây màn kịch Vô Não xin bắt đầu.
21/08/2018(Xem: 21119)
Mục Kiền Liên vốn xuất thân Con ông trưởng giả vô ngần giàu sang Ông cha tu rất đàng hoàng Nổi danh đạo đức xóm làng biết tên, Nhưng bà mẹ thời luân phiên Làm điều ác đức cho nên trong đời Gây nhiều nghiệp nặng tày trời Kiếp sau quả báo vào nơi đọa đày. Riêng Mục Liên nổi tiếng thay Thông minh, hiếu thảo lại đầy lòng nhân Can trường, cương nghị, lạc quan Thấy điều bất chính là can thiệp liền.
16/08/2018(Xem: 14686)
Trong nhiều bài kinh từ Hán tạng cho đến Pali tạng, Đức Phật tán thán hạnh hiếu dưỡng cha mẹ vì công ơn mang nặng đẻ đau và dưỡng dục của cha mẹ là vô ngần, không thể tính kể. Cho nên trong Tăng Chi Bộ, Thế Tôn gọi Cha Mẹ là Phạm Thiên, và những con cháu trong gia đình nào mà kính dưỡng cha mẹ được xem ngang bằng với Phạm Thiên: “Những gia đình nào, trong ấy các con cái kính lễ cha mẹ, những gia đình ấy được chấp nhận ngang bằng với Phạm Thiên, được chấp nhận là đáng được cúng dường”
13/08/2018(Xem: 11347)
Từ ngày vào chùa ở với sư cụ, chú Nhị Bảo ít khi được về thăm gia đình, mặc dù từ chùa về nhà không xa lắm, chỉ băng qua một cánh đồng, một khu rừng đầy thông reo là đến con đường lớn dẫn thẳng về nhà. Nếu đi bộ, chú phải mất hơn mấy tiếng đồng hồ. Công việc của chú hằng ngày tuy đơn giản nhưng thời khóa cũng khít khao. Sau những giờ hầu sư cụ, chú học kinh, viết chữ nho và thỉnh kệ chuông U Minh buổi tối. Mỗi ngày, chú còn phải đến lớp để tiếp tục chương trình phổ thông cơ sở. Chú học giỏi lại có hạnh kiểm tốt, đặc biệt gương mặt trong vắt ngây thơ và thánh thiện của chú khiến mọi người ai cũng mến yêu.