46. Thiền sư Minh Toản

05/06/201115:05(Xem: 18605)
46. Thiền sư Minh Toản

CAO TĂNG DỊ TRUYỆN
(Truyện Kể Các Vị Cao Tăng Trung Quốc)
Hạnh Huệ biên soạn - Nhà Xuất Bản TP. Hồ Chí Minh 2001

46. THIỀN SƯ MINH TOẢN Thuyết pháp HÀNH NHẠC

Minh Toản tức Lại Tàn, chấp dịch ở Hành Nhạc, nhặt đồ thừa mà ăn. Tánh Sư lười biếng, ăn đồ thừa nên có hiệu là Lại Tàn. Tể tướng Lý Bí đề cao đức hạnh của Sư lên vua Đức Tông, vua sai chiếu mời. Sứ giả đến hang đá tuyên chiếu vua nói:

- Tôn giả hãy đứng lên tạ ơn vua.

Toản làm thinh, mũi dãi lòng thòng. Sứ giả trông thấy cười bảo Ngài chùi mũi. Toản nói:

Ta hơi sức đâu mà vì người đời chùi mũi.

Rồi không chịu đi.

Thích Sử sắp tế thần núi, lo sửa đường lên. Nửa đêm sấm gió, một khối đá to rơi xuống chắn ngang đường. Người sửa đường đem mười trâu đến kéo, lại thêm mấy trăm người giup mà hòn đá không nhúc nhích. Sư cười nói:

- Chẳng phiền nhiều sức. Rồi lấy chân đạp đá, đá lăn tròn rồi rơi xuống, tiếng như sấm nổ. Đường được khai thông, mọi người xem Sư như thần. Ngoài cổng chùa, cọp beo chợt họp thành bầy. Sư bảo chúng tăng:

- Tôi sẽ đuổi sạch chúng cho các ông. Đưa roi đây!

Chúng lấy roi đưa, Sư vừa ra khỏi chùa. Một con cọp vội vàng vâng lệnh Sư bỏ đi, hổ beo cũng theo đó mà dứt tuyệt dấu vết.

Sư thường có bài ca:

Ngơ ngơ vô sự không cải đổi

Vô sự đâu cần luận một đoạn

Trực tâm không tán loạn,

Việc khác chẳng cần đoạn.

Quá khứ đã qua đi

Vị lai vẫn chẳng tính

Ngơ ngơ vô sự ngồi

Đâu từng có người gọi.

Hướng ngoại tìm công phu

Đều là tên ngu ngôc.

Lương chẳng chứa một hột

Gặp cơm chỉ biết kêu.

Người đa sự ở đời,

Đuổi theo mà chẳng kịp.

Ta chẳng ưa lên trời,

Cũng chẳng thích ruộng phước.

Đói đến ăn cơm,

Mệt đến thì ngủ.

Người ngu cười ta,

Mà người trí biết.

Chẳng phải si độn,

Thể vốn như nhiên.

Cần đi thì đi,

Cần đứng thì đứng,

Thân khoác manh áo rách,

Chân mặc khố mẹ sanh.

Nhiều lời và lắm lẽ

Chỉ làm hiểu lầm nhau.

Nếu muốn độ chúng sanh,

Không gì hơn tự độ.

Chớ báng Phật thiên chân

Chân Phật chẳng thể thấy.

Diệu tánh và linh đài

Đâu cần chịu rèn luyện.

Tâm là tâm vô sư

Mặt là mặt mẹ sanh.

Kiếp thạch có di động,

Trong đây không cải biến.

Vô sự vốn vô sự

Đâu cần đọc văn tự,

Dẹp trừ gốc nhân ngã,

Thầm hợp ý trong này.

Các thứ nhọc gân cốt,

Chẳng bằng ngủ trong rừng

Ngơ ngơ ngẩng đầu nhìn,

Mặt trời lên cao.

Ăn thức ăn thừa

Đem công dụng công,

Dần dà mờ tối.

Nắm lấy chẳng được,

Không nắm tự thông.

Ta có một lời,

Dứt nghĩ, quên duyên,

Nói khéo chẳng được,

Chỉ đem tâm truyền.

Lại có một lời,

Chẳng qua cho thẳng,

Nhỏ như mảy lông,

Lớn không nơi chốn.

Vốn tự viên thành,

Chẳng nhọc thêu dệt.

Thế sự mang mang,

Chẳng bằng non núi,

Tùng xanh che trời,

Suối biếc chảy dài,

Mây núi đang giăng,

Trăng đêm làm móc,

Nằm dưới dây leo.

Gối đầu tảng đá.

Chẳng chầu thiên tử.

Há khoái vương hầu.

Sanh tử chẳng lo,

Còn lo gì nữa?

Trăng nước không hình.

Ta thường chỉ an,

Vạn pháp đều vậy

Vốn tự vô sanh.

Ngơ ngơ vô sự ngồi,

Xuân đến cỏ tự xanh.

Lửa phân bò chỉ biết màu vàng đẹp mà thôi.

Móc bạc đâu rành bùn tía mới

Còn chẳng có tâm chùi mũi dãi

Há có công phu hỏi người tục.

(Phẩn hỏa đản tri hoàng độc mỹ

Ngân câu na thức tử nê tân

Thượng vô tâm tự thu hàn thế

Khởi hữu công phu vấn tục nhân).
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
12/09/2011(Xem: 6416)
Hồ Biểu Chánh (1884–1958), tên thật là Hồ Văn Trung, tự Biểu Chánh, hiệu Thứ Tiên; là một nhà văn tiên phong của miền Nam Việt Nam ở đầu thế kỷ 20. Ông sinh năm 1885 (trong giấy khai sinh ghi ngày 1 tháng 10 năm 1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ.
11/09/2011(Xem: 16910)
Tôi thức dậy trong một sự yên tĩnh như thế ấy ở Pomona. Tiếng chim hót vang rừng những không thể nói là tiếng ồn. Nó lại càng làm cho sự yên lặng thêm sâu hơn về bề sâu là khác.
06/09/2011(Xem: 15095)
Đóa sen, nếu nhìn dưới kính hiển vi và suy luận theo thiên văn học, là nền tảng của vũ trụ và cũng là một phương tiện giúp ta khám phá vũ trụ.
05/09/2011(Xem: 11258)
Điều tôi muốn là con đường đưa đến sự chấm dứt mọi đau khổ, một con đường đã được khám phá hơn hai ngàn năm trăm năm nay nhưng mãi đến thời gian gần đây tôi mới ý thức được nó.
05/09/2011(Xem: 9685)
Tinh thần Hoa Nghiêm từng dạy một câu rất thâm sâu nhưng chỉ cần lắng tâm là có thể nắm bắt được. Đó là: “Khoảnh khắc chứa đựng thiên thu”. Mỗi phút giây là mỗi thách thức của ta qua sự hiện hữu ở cõi Ta Bà này. Ta phải nghĩ thế nào để có chánh niệm, thở thế nào để có tỉnh thức, sống thế nào để có an lạc. Bước được một bước chân vào Tịnh Độ thì cần gì trăm năm?! Khoảnh khắc đó chính là thiên thu đấy.... Đức Phật là tiêu biểu tuyệt hảo về Từ, Bi, Hỷ Xả. Đó là Tứ Vô Lượng Tâm toàn bích, không một tỳ vết, thể hiện qua suốt cuộc đời thị hiện ta-bà của Ngài.
01/09/2011(Xem: 4658)
Lữ khách một mình trên lối mòn vào thung lũng An-nhiên. Núi rừng trùng điệp miền Bản-ngã-sơn huyền bí, nhàn nhạt ánh mặt trởi trên bóng lá thâm u. Mơ hồ đâu đó phảng phất khói lam ai đốt lau làm rẫy dưới sườn non.
31/08/2011(Xem: 19946)
Cám ơn nàng. Nàng đã đem lại cho ta SỰ THẬT. Nàng đã cho ta thấy cái phi lý của tưởng tượng. Ta sẽ không còn ôm giữ một hình ảnh nào, vì Phật đã dạy: Pháp còn phải bỏ huống chi phi pháp.
29/08/2011(Xem: 10449)
Cha cô vẫn nói, cô giống mẹ từ chân tơ, kẽ tóc, vừa xinh đẹp, vừa tài hoa. Cha thương nhớ mẹ bao nhiêu là yêu quí cô bấy nhiêu.
29/08/2011(Xem: 18224)
Bàng bạc khắp trong tam tạng kinh điển, hằng hà sa số mẩu truyện, đức Phật thường nhắc đến sự liên hệ giữa Ngài và các đệ tử, giữa chúng sanh và Ngài trong những kiếp quá khứ.
28/08/2011(Xem: 5454)
Diệu nhắm mắt lại, không biết mình đang mơ hay tỉnh. Phép lạ nào đã biến đổi tâm hồn Quảng đến không ngờ?