Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. [email protected]* Viện Chủ: HT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

1. Sự thật quả báo

24/04/201109:25(Xem: 7271)
1. Sự thật quả báo

CON ĐƯỜNG SÁNG
(SỰ THẬT NHÂN QUẢ)
Thích Huyền Diệu

SỰ THẬT QUẢ BÁO

Nhân dịp phái đoàn chiêm bái đất Phật từ Úc sang từ ngày 18/10-31/10/2010, tôi đón đoàn tại phi trường Kathmandu và đưa đoàn lên vùng Himalaya thăm viếng và tu tập. Himalaya là vùng núi non hiểm trở, nhiều linh thiêng huyền bí mà bao nhiêu người từng mơ ước được viếng thăm và ở lại đây một thời gian.

Nhiều sách vở đã viết về sự huyền bí của vùng Himalaya đã thu hút biết bao tâm hồn yêu quý thiên thiên. Mỗi đoàn chiêm bái đất Phật do tôi hướng dẫn đều đặt cho một cái tên. Đoàn này tôi cho một cái tên hơi ngộ nghĩnh là đoàn Diễm phúc An vui. Mọi người phấn khởi vui mừng nhưng nhiều vị vẫn thắc mắc hỏi tôi về ý nghĩa cái tên đoàn. Cứ như vậy mà nhiều người trong đoàn cứ hỏi đi hỏi lại nhiều lần.

Tôi đợi vào một buổi sáng thật đẹp khi mặt trời lên thật cao để mọi người ngắm nhìn dãy núi tuyết hùng vĩ, thế là tôi kể chung cho mọi người cùng nghe: trong lục đạo được làm thân người là diễm phúc lắm, dù có nhiều khổ đau, khó nhọc nhưng cũng có nhiều điều hay, nhiều điều thú vị. Trên thế giới hiện nay có hàng trăm triệu người không có đủ cơm ăn áo mặc, hơn một tỷ người không có nước sạch mà dùng và hàng trăm triệu người không có đủ thuốc để uống khi bệnh hoạn, nhưng quý vị trong phái đoàn là những người có diễm phúc lớn nhất trong trần gian này có phải vậy không? Vì quý vì đã có cơm ăn áo mặc đầy đủ, có nhà cao cửa rộng, có đầy đủ tiện nghi vật chất, có tiền bố thí và có tiền đi du lịch đi chiêm bái nhiều nơi… Mọi người lặng thinh nghe tôi nói, có vị rất xúc động và không ai trả lời gì hết rồi mặt trời càng lúc càng lên cao mây mù càng lúc càng tan dần và dãy núi tuyết Himalaya càng hiện rõ hơn, mọi người cùng tập trung chăm chú ngắm nhìn sự hùng vĩ cũa Himalaya. Có người bật khóc như trẻ thơ và có người hốt hoảng chạy tới hỏi tôi tại sao có những hiện tượng như vậy? Đứng trước cảnh thiên nhiên hùng vĩ của nơi linh địa, họ bừng tỉnh cảm được một số việc làm họ không cầm được nước mắt, từ đó nhiều người rất siêng năng tu tập dưới sự hướng dẫn của tôi và một vài vị trong đoàn bổng nhiên lại đề nghị mỗi người nên kể ra một câu chuyện nhân quả thật xảy ra trong cuộc đời mà mỗi người đã chứng kiến. Thế là những câu chuyện thật về quả báo được mọi người trong đoàn lần lượt kể trong nhiều ngày, tôi ghi âm và biên chép lại làm thành cuốn sách về những câu chuyện nhỏ này.

Những câu chuyện thật về quả báo được kể ra thật chi tiết và rất cảm động.

Sau quyển sách Tình Thương Và Lòng Độ Lượngtập 1 được nhiều đọc giả yêu thích, nhiều người yêu cầu viết tiếp quyển thứ 2, thế là tôi bắt đầu viết tiếp quyển thứ 2 được hai tuần. Nhưng khi thầy Nhuận Đạt cùng các Phật tử tu tập ở Việt Nam Phật Quốc Tự yêu cầu tôi nên viết cuốn sách về sự thật quả báotrước. Các vị này nói rằng cuốn sách này ra đời có thể đóng góp nhiều điều tốt cho xã hội đầy biến động hiện nay. Các vị cũng nói rất tin tưởng về những chuyện sự thật quả báo này bằng mắt thấy tai nghe đã xảy ra trong đời này, có thể kéo con người trở về với con đường tốt đẹp của chân thiện mỹ, con đường của tình thương, của từ bi và trí tuệ để giảm bớt sự đau khổ của nhiều người.

Suốt mấy bữa liền sau những buổi uống nước trà ngắm nhìn bình minh và hoàng hôn ở Việt Nam Phật Quốc Tự, các vị cứ đem đề tài này ra nói, nên tôi tạm không viết tiếp quyển 2 Tình Thương Và Lòng Độ Lượngmà chuyển sang viết đề tài Nhân Quả này.

Cuộc đời tôi đã tận mắt chứng kiến quả báo nhãn tiền trên đất Phật đã đến với tôi ngay trong cuộc đời này, phải thanh thoát bình tĩnh lắm mới thấy được sự thật, sự công bằng của luật quả báo.

Luật pháp của từng quốc gia khác nhau, người phạm luật có thể trốn tránh hay có thể mướn luật sự giỏi để chạy tội hay có thể dùng nhiều phương cách để thoát tội nhưng luật nhân quả thì không sao tránh được, có bao nhiêu tiền của, bao nhiêu thế lực… cũng không sao thay thế được và người gây tội lỗi phải trả quả báo dưới nhiều hình thức khác nhau ngay trong đời này.

Chúng ta phải bình tĩnh và tinh tế lắm mới thấy rõ điều này. Tôi là người được đào tạo trong môi trường khoa học Âu Mỹ, tôi đã kiểm chứng luật nhân quả này rất nhiều lần, nhiều nơi trên thế giới trong nhiều trường hợp khác nhau thấy rất công bằng và chính xác. Như trong quyển sách Hòa Bình Nepal Trong Tầm Taytôi viết ở Lâm Tì Ni nơi đức phật Thích Ca giáng trần, tôi có đề cập đến một nhân vật Việt Nam nổi tiếng khắp nơi trên thế giới. Tôi đã từng ở gần một thời gian với vị lãnh tụ này, và tôi kiên nhẫn quan sát thật kỹ hành động và những việc làm của vị này gần 40 chục năm từ khi gặp ở Việt Nam và khi sang Ấn Độ, sau đó vị này nổi tiếng khắp nơi trên thế giới. Lãnh tụ này bằng mọi cách gây ảnh hưởng dưới nhiều dạng khác nhau, tìm cách thu tiền có tổ chức có phương pháp rất tinh vi và không từ bỏ phương tiện nào miễn sao để đạt được mục đích. Một tổ chức khá vĩ mô được xây dựng lên đầy công phu, tinh vi miễn sao kiếm được nhiều tiền và xây dựng thân thế bất chấp những thiệt hại, khổ đau cho người khác!

Theo những nguồn tin đáng tin cậy vị này sau nhiều năm tổ chức tinh vi, tích lũy tiền bạc của cải trên 20 triệu đô la Mỹ. Với một người không cần làm gì nặng nhọc mà có được số tiền lớn như vậy quả là đặc biệt. Chúng ta mỗi người đi làm mướn từ lục địa này sang lục địa khác, từ nước này qua nước nọ, lao động liên tục nhiều năm chưa kiếm được một triệu bạc thế mà vị này không cần di chuyển làm việc nặng nhọc chi hết mà vẫn thu được từ mọi người gần 20 triệu đô la Mĩ. Thật là lạ lùng! kỳ hoặc không thể tưởng tượng được!? Nếu số tiền này được nằm trong tay người có tâm lành thì làm được biết bao nhiêu việc thiện để cứu vớt chúng sanh. Nhân vật lãnh đạo tối cao của tổ chức này chắc chắn tin tưởng một cách chắc nịch rằng, với một tài sản vô cùng to lớn như vậy sẽ mặc sức mà sống hưởng thụ hàng ngàn năm để thưởng thức, có thể cùng với những vị thân thích, đoàn tùy tùng, thân bằng quyến thuộc và các học trò của ông ta hưởng thụ dù đến trăm năm cũng khó hết được. Nhưng hỡi ôi, định luật nhân quả do chư Phật, chư tổ, chư thánh hiền đã thuyết giảng từ bao nghìn năm nay đã cho chúng ta thấy rõ như mặt trời tỏa chiếu. Tiền của thì đầy ắp, chức vụ danh vọng của vị này thì chất cả xe… nhưng trước khi chết, vị lãnh tụ này không ăn uống chi được hết trong nhiều năm mà phải nhờ cái máy ăn dùm, nghĩa là mỗi lần ăn bác sĩ phải dùng bằng ống nhựa đưa vào miệng tới bao tử rồi bơm vitamin vào để có đủ chất để sống. Cứ như vậy mà kéo dài nhiều năm, nhưng việc đơn giản như đi vệ sinh toilet cũng phải nằm ngay tại chỗ… còn nhiều cảnh đau khổ và hãi hùng khác cứ vùi dập lên vị lãnh tụ đó, nghe nhiều người kể lại mà lạnh người. Chúng ta kể lại những sự thật về nhân quả không phải để bêu xấu bất cứ ai, mà muốn làm phương tiện sáng tỏ thí dụ cụ thể về sự thật mà chư Phật và chư vị thánh nhân đã dạy, đã kể để chỉ dạy chúng sanh, nhưng chúng sanh vì vô minh mà khinh thường những định luật vũ trụ nên họ phải gánh chịu những kết quả hãi hùng như vậy. Vị lãnh tụ này sau nhiều năm nằm một chỗ, những cảnh tượng đau khổ ập về, vị lãnh tụ không thể nói nên lời, chỉ co ra co vào hai ngón tay nghe vu vu, và chỉ biết khóc trong lặng lẽ mà không ai có thể thấu hiểu được vị lãnh tụ muốn nói gì, nhắn nhủ gì với những người đi thăm. Nhiều ngưới cứ thắc mắc biểu hiện như vậy là thế nào? Có lúc tôi gặp được bậc chân sư, tôi có đem việc lạ này để hỏi, ngài kể lại và tâm sự rằng vị lãnh tụ đó muốn nói mọi người đừng bao giờ gây tội lỗi cho người khác, đừng lạm dụng của tam bảo, của đàn na tín thí như vị lãnh tụ đã làm. Còn hai bàn tay co ra co vào là muốn nói số tiền 20 triệu đó bây giờ để ở đâu và ai quản lý.

Sau khi vị lãnh tụ ấy qua đời, nhiều tranh cãi giữa thân bằng quyến thuộc với học trò đệ tử tông môn khá sôi động, mà người biết chuyện đó khá rõ là bà Bùi Thị Sâm pháp danh Diệu Nhung ở Pháp. Bà Sâm nay đã trên 80 tuổi mà sức khỏe vẫn còn tốt, và Bà biết rất nhiều chuyện quả báo nhãn tiền. Bà kể lại câu chuyện và nói không chỉ thầy làm không phải thì thầy chịu mà trong thân bằng quyến thuộc con cháu cũng bị quả báo lây, nhiều điều tai nạn khủng khiếp xảy ra cho các người thân cận. Nếu có dịp nào thuận tiện hơn chúng ta sẽ trở lại câu chuyện này chi tiết hơn. Nếu sức khỏe cho phép và có đủ nhân duyên tôi sẽ kể về sự thật quả báo này, một quả báo hiện tiền ngay trong đời này chứ không phải đợi đến đời sau. Đúng là những gì chư Phật, chư ThầyTổ, chư vị Tôn Sư chỉ dạy đều đúng 100 phần trăm.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
14/01/2011(Xem: 3515)
Nếu bảo tuổi trẻ là tuổi của rong chơi vui vẻ, của yêu đương mộng mơ, của lãng mạn...thì tôi không có được diễm phúc có tuổi trẻ. Chơi không dám chơi hết mình. Cười, không dám cười to. Nói năng e dè, đi đứng lủi thủi một mình, ít bạn bè thân...lúc nào cũng đầy mặc cảm nghèo khó, quê mùa. Đời tôi, do vậy, từ tốt nghiệp, ra đời, dù có nhiều lúc thăng trầm, nhưng hình như không có lúc nào cảm thấy...xuống chó cả, chỉ có lên voi thôi! Nguyện vọng tha thiết của Ba Mẹ tôi và cũng là hoài bảo lớn nhất của tôi, trong thời gian học ở trường trung học tỉnh lẻ Gò Cong, chỉ là làm sao được thi đậu vào trường Sư phạm để ra trường về làng dạy học.
13/01/2011(Xem: 21633)
Trong Đường Xưa Mây Trắng chúng ta khám phá ra Bụt là một con người chứ không phải là một vị thần linh. Đó là chủ tâm của tác giả...
09/01/2011(Xem: 11909)
Milarepa là Thánh St. Francis của Tây Tạng. Chúng ta không thể nhầm lẫn âm điệu của những ca khúc này với âm điệu của những ca khúc Fioretti...
07/01/2011(Xem: 8417)
Ngày nay, Buddhagay là nơi thu hút giới Phật giáo và các phái đoàn hành hương đến viếng thăm quanh năm. Như một điều kỳ diệu, Buddhagay , một ngôi làng tầm thường, cổ xưa đã được chuyển hoá trong chốc lát. Giờ đây, Buddhgay đang hoạt động mạnh mẽ trong đời sống, và một lần nữa, Buddhagay có triển vọng sẽ là một trung tâm của Phật giáo thế giới. Thánh tích "Bồ-đề Đạo Tràng" (Buddhagay hay còn gọi là Bodhgay ) là địa danh chỉ cho nơi Đức Phật đạt được quả vị giác ngộ tối thượng (Sambodhi). Buddhagay cách thị trấn Gay cũ sáu dặm về phía Bắc, ngày nay cũng được biết với tên Brahmagay , nơi chiêm bái của tín đồ Ấn giáo (Hinduism). Có lẽ tín đồ Ấn giáo đã thêm thuật ngữ ‘Brahma’ vào địa danh của thánh tích này để phân biệt với Buddhagay , thánh tích của Phật giáo. Buddhagaya bây giờ là một thị trấn thịnh vượng, phía bắc giáp với Haripur, phía đông giáp với Mastipur, Dhondowa, Bhalua and Turi, phía nam giáp với Rampur và phía đông giáp với dòng sông Lilajan. Đây là một hình thức
06/01/2011(Xem: 6562)
Tôi và chị chưa hề một lần gây thù chuốc oán với nhau. Vậy mà không hiểu sao ngay từ ngày chạm mặt đầu tiên ở trụ sở Hội Văn Học Nghệ Thuật Tỉnh, bỗng dưng tôi thấy ghét chị thậm tệ. Và nhìn ánh mắt, vầng trán nhăn nhíu, điệu bộ của chị khi đứng gần tôi vào lúc cuộc họp chuẩn bị khai mạc, tôi cảm nhận, thấy biết được chắc chắn rằng chị cũng chẳng ưa gì tôi, có thể là ghét cay ghét đắng tôi, còn hơn cái mức mà tôi ghét chị. Sao kỳ vậy? Đố kỵ tài năng sao? Không phải.
06/01/2011(Xem: 4009)
Sắp Tết đến nơi rồi. Ngồi bên vỉa hè ngập nắng trước ngôi chùa suốt ngày đóng cổng tam quan im ỉm tịch lặng, dì Thanh rơm rớm nước mắt nhìn dòng người ngược xuôi tấp nập trên đường, ai nấy cũng lăng xăng sắm sửa chuẩn bị tống tiễn năm cũ, còn dì thì cứ như bất động, muốn động đậy cũng không còn sinh lực để nhấc cử tay chân. Bây giờ có muốn lo toan đèo bòng cùng thiên hạ, sắm thứ này thứ nọ, thì dì cũng chẳng có tiền để mà đứng dậy đi ra chỗ chợ búa xôn xao trăm hàng khoe sắc. Dì cúi xuống nhìn bé Trang đang nằm ngủ thật vô tư trên manh chiếu rách nát
06/01/2011(Xem: 7225)
Sau kỳ nghỉ hè, trở vào hãng làm việc, không thấy Goga mang theo chó, tôi hỏi : - Ủa , chó của bạn đâu ? Goga, con nhỏ bạn người Nam Tư trả lời : - Chó của tôi còn bé quá, phải một tháng sau, tôi mới mang qua được. - Bạn gởi nó bằng bưu điện ? -Không, tôi sẽ trở về rước.
05/01/2011(Xem: 2968)
Nguyên Nguyễn Tịch, người đời nhà Tấn, là người rất ưa rượu và đàn. Làm quan rồi cáo bịnh về nhà, kết bạn cùng Kê Khang, Lưu Linh, Nguyễn Hàn...
05/01/2011(Xem: 3172)
Thắng trận, Sở Trang vương đời Xuân Thu truyền bày tiệc liên hoan, gọi là "Thái bình yến". Phàm các quan văn võ bất cứ cấp nào đều được tham dự.
04/01/2011(Xem: 52917)
QUYỂN 5 MÙA AN CƯ THỨ MƯỜI BỐN (Năm 574 trước TL) 91 CÁC LOẠI CỎ Đầu Xuân, khi trời mát mẻ, đức Phật tính chuyện lên đường trở về Sāvatthi. Thấy hội chúng quá đông, đức Phật bảo chư vị trưởng lão mỗi vị dẫn mỗi nhóm, mỗi chúng phân phối theo nhiều lộ trình, qua nhiều thôn làng để tiện việc khất thực. Hôm kia, trời chiều, cạnh một khu rừng, với đại chúng vây quanh, đức Phật ngắm nhìn một bọn trẻ đang quây quần vui chơi bên một đám bò đang ăn cỏ; và xa xa bên kia, lại có một đám trẻ khác dường như đang lựa tìm để cắt những đám cỏ xanh non hơn; ngài chợt mỉm cười cất tiếng gọi:
facebook youtube google-plus linkedin twitter blog
Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.

May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,
Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,
may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,
the Land of Ultimate Bliss.

Quang Duc Buddhist Welfare Association of Victoria
Tu Viện Quảng Đức | Quang Duc Monastery
Most Venerable Thich Tam Phuong | Senior Venerable Thich Nguyen Tang
Address: Quang Duc Monastery, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic.3060 Australia
Tel: 61.03.9357 3544 ; Fax: 61.03.9357 3600
Website: http://www.quangduc.com
http://www.tuvienquangduc.com.au (old)
Xin gửi Xin gửi bài mới và ý kiến đóng góp đến Ban Biên Tập qua địa chỉ:
[email protected]