68. Một bọc trăm con

04/03/201103:31(Xem: 10179)
68. Một bọc trăm con

MỘT TRĂM BÀI KINH PHẬT
Đoàn Trung Còn - Nguyễn Minh Tiến dịch và chú giải

PHẨM THỨ BẢY: CHƯ PHẬT RA ĐỜI

MỘT BỌC TRĂM CON

Lúc ấy, Phật ở thành Ca-tỳ-la-vệ, dưới gốc cây Ni-câu-đà. Trong thành có một trưởng giả vô cùng giàu có, chọn một người vợ thuộc dòng quý tộc, sống với nhau vui vẻ, đầm ấm.

Không bao lâu người vợ có thai. Đến kỳ sinh nở, lại sinh ra một bọc thịt lớn. Vị trưởng giả ấy trong lòng sầu khổ, lo lắng, liền đi đến chỗ Phật, lễ bái rồi thưa hỏi rằng: “Bạch Thế Tôn! Người vợ của con sinh ra một bọc thịt lớn, chẳng biết điều ấy lành dữ thế nào. Mong Phật từ bi nói cho được biết.”

Phật nói: “Ngươi chớ sinh lòng nghi ngại, chỉ nên cố gắng mà bảo dưỡng lấy. Sự việc thế nào, trong vòng bảy ngày ngươi sẽ tự biết.”

Trưởng giả nghe vậy lấy làm yên tâm, liền lễ Phật ra về.

Bọc thịt ấy ngày ngày tự nhiên lớn nhanh như thổi, đủ bảy ngày liền tự nhiên xé rách, bên trong chui ra một trăm đứa bé trai, hình thể thảy đều xinh đẹp, kháu khỉnh.

Một trăm đứa trẻ ấy lớn lên, khi ăn khi chơi nhất nhất đều gắn bó thân thiết cùng nhau. Cho đến ngày kia, cùng đi đến chỗ cội cây Ni-câu-đà mà lễ Phật. Được nhìn thấy đức Thế Tôn đủ ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, hào quang chiếu sáng quanh thân, oai nghi rực rỡ thù thắng vô cùng, tất cả đều sinh lòng hoan hỷ, tín kính, cùng nhau lễ bái rồi đứng sang một bên nghe pháp.

Phật thuyết pháp Tứ diệu đế cho nghe, một trăm người con ấy liền đồng loạt chứng quả Tu-đà-hoàn, quay về thưa với cha mẹ xin được xuất gia tu học.

Cha mẹ yêu thương chẳng muốn trái ý, liền dẫn tất cả đến chỗ Phật xin cho xuất gia nhập đạo. Phật nói: “Lành thay đó, tỳ-kheo!” Tức thì, tất cả râu tóc tự nhiên rụng sạch, áo cà-sa hiện ra nơi thân, thành một trăm vị sa-môn oai nghi đầy đủ. Chuyên cần tu tập, chẳng bao lâu đều đắc quả A-La-hán, đủ Ba trí sáng, Sáu phép thần thông, Tám môn giải thoát, khắp cõi trời người ai gặp cũng đều kính trọng, ngưỡng mộ.

Chư tỳ-kheo thấy việc như vậy, thưa hỏi Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Một trăm vị tỳ-kheo này trước đã trồng những căn lành gì mà anh em cả trăm người cùng sinh ra một lúc, nay được gặp Phật mà xuất gia, chưa bao lâu đã được đắc đạo?”

Phật bảo chư tỳ-kheo: “Các ngươi hãy chú tâm lắng nghe, ta sẽ vì các ngươi mà phân biệt giảng nói. Về thuở quá khứ cách đây chín mươi mốt kiếp, xứ Ba-la-nại có vị Phật ra đời hiệu là Tỳ-bà-thi. Hóa duyên đã mãn, Phật liền nhập Niết-bàn.

“Bấy giờ có vị vua tên là Bàn-đầu-mạt-đế, thu gom xá-lỵ Phật rồi dựng bốn tòa tháp quý đặt vào trong để cúng dường. Bấy giờ có một trăm người sống chung trong một làng kia, cùng nhau mang hương đèn, hoa quả đến lễ bái cúng dường tháp Phật. Cúng dường xong, tất cả đồng phát nguyện rằng: ‘Nhờ công đức cúng dường này, trong đời vị lai tất cả chúng tôi nguyện sinh làm anh em một nhà, khuyến khích nhau cùng tu tập.’”

Phật lại bảo chư tỳ-kheo: “Một trăm người đồng hương thuở ấy cùng cúng dường Phật, nay là một trăm vị tỳ-kheo này đây. Do công đức cúng dường và nguyện lực ngày ấy, trải qua chín mươi mốt, các vị đều không phải đọa vào các đường ác như địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ, lại trong cõi trời người đều cùng sinh ra một lúc, cùng hưởng những khoái lạc, phước báu. Cho đến nay được gặp Phật, cùng nhau xuất gia đắc đạo.”

Các vị tỳ-kheo nghe Phật thuyết nhân duyên này xong thảy đều vui mừng tin nhận.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
05/05/2011(Xem: 4662)
Ngày xưa có một ông vua và một bà hoàng hậu ngày nào cũng nói: "Ước gì mình có đứa con!" mà mãi vẫn không có.
05/05/2011(Xem: 4116)
Một người có ba con trai, cả cơ nghiệp có một cái nhà. Người con nào cũng muốn sau này, khi bố mất, nhà sẽ về mình.
26/04/2011(Xem: 15050)
Mỹ Uyên tần ngần đứng trước cổng Tam quan chùa, lâu lắm rồi vì nhiều lý do nàng đã không đến đây dù rằng mỗi kỳ lễ Tết nàng đều từ thành phố về nhà thăm cha mẹ và nhà nàng cách chùa không xa lắm. Dù sao, ngôi chùa này với nàng cũng có biết bao kỷ niệm êm đềm thời thơ ấu.
26/04/2011(Xem: 6681)
Ai đã từng đọc tác phẩm “Đoạn Trường Tân Thanh“ tức “Truyện Kiều“ của đại thi hào Nguyễn Du mà chẳng biết Hoạn Thư, người đàn bà “biết ghen“ thông minh vào bậc nhất nhì trên đời. Hoạn Thư thì quá nổi tiếng rồi (nhưng chẳng biết trên đời có thật hay không?), bây giờ thì tôi xin được kể về một Hoạn Thư khác hoàn toàn có thật, thật như mặt trời mọc ở đằng đông và lặn ở đằng tây vậy.
26/04/2011(Xem: 5393)
Một buổi tối, chàng đánh trống trẻ tuổi đi một mình giữa cánh đồng. Tới bên một cái hồ, anh thấy trên bờ ba chiếc áo trắng của ai vứt đó.
26/04/2011(Xem: 4517)
Xưa có một người trước khi đi xa từ biệt ba con gái, hỏi các con muốn lấy quà gì. Cô cả muốn lấy ngọc, cô thứ hai xin kim cương, cô út nói...
26/04/2011(Xem: 5138)
Xưa có một người lính như vậy bị thải hồi. Bác ta không học được nghề gì nên không kiếm tiền được, đành đi lang thang ăn xin thiên hạ.
26/04/2011(Xem: 4748)
Ngày xưa có một người đàn bà góa sống cô quạnh trong một túp lều gianh. Trước cửa là một cái vườn có hai cây hoa hồng, một cây ra hoa đỏ, một cây ra hoa trắng.
26/04/2011(Xem: 4612)
Ngày xưa có một ông vua trị vì vào thời nào, tên là gì, tôi không nhớ rõ nữa. Vua không có con trai, chỉ có độc một cô con gái, luôn luôn đau ốm...
25/04/2011(Xem: 5801)
Ông Tư bị ung thư và biết chắc không thể sống lâu hơn sáu tháng. Ông bình tỉnh chờ cái chết, và vui vẻ sống những ngày ngắn ngủi còn lại, mà không bi ai, không sợ hãi. Ông muốn sau khi chết, gia đình làm đám tang theo ý riêng của ông. Bà vợ nghe dặn dò cách thức làm đám tang kỳ dị, thì nói giọng buồn, với đôi mắt cầu khẩn: - Em nghe nói ngày xưa ở Huế, người đàn bà đầu tiên đi xe đạp, bị cả thành phố phỉ nhổ, xem như là Me Tây, như kẽ phá hoại phong hóa nơi đất thần kinh. Cho đến khi chiếc xe gắn máy hiệu “Velo solex” ra đời, người đàn bà đầu tiên xữ dụng, cũng bị xem như là thứ côn đồ, cao bồi du đảng, chẵng ai dám giao du thân mật. Đến như bà Thu, vốn là một công chúa, dù là con của vị phế đế, là người đàn bà có xe hơi, và lái xe hơi dầu tiên ở Huế, cũng bị thiên hạ nghi ngờ oan ức đến cái đức hạnh của bà, mà suốt đời không kiếm được một tấm chồng. Thế mà bây giờ, anh bảo em làm đám tang khác thiên hạ, không giống ai, thì chịu sao nỗi lời tiếu đàm của bà con, họ hàng! Ông Tư cười,