Chiều tà

23/05/201209:52(Xem: 6076)
Chiều tà

                          hoang hon4                   

Cách chùa khoảng một trăm mét, xéo về phía tây, dòng sông chảy hiền hòa uốn quanh thôn làng, bao bọc gần hết chu vi ba mặt của xóm nhỏ, chừa mặt tây trông ra ngọn núi hình dáng như người nằm ngủ nghiêng mà ở khúc đuôi của nó như một bàn chân đang chỉa năm ngón lên trời.

Ba người ngồi trên bãi cát hẹp của bờ sông. Phía trên đầu, gió chiều đang luồn qua lùm tre tạo ra những âm thanh xào xạc dễ chịu.

Ông thầy chùa bận áo màu nâu đậm, quần màu lam, ngồi xếp bằng trên mặt cát, đang lắng nghe Phụng nói.

Giọng nàng thanh thoát, trong như tiếng chuông ngân. “Cho nên người ta thường nói nghe thấy, xem thấy…Bản nhạc mà ban nảy chúng ta đã nghe trong liêu của thầy nếu nghe bằng đôi tai biết thưởng thức âm nhạc, thầy sẽ  thấy bản nhạc đang diễn tả một lễ hội dân gian nào đó bằng những âm điệu vui tươi, náo hoạt và những tiết tấu rộn ràng. Chúng ta nghe thấy bản nhạc đó, nghĩa là chúng ta đã cảm thụ được cái hồn của nhạc phẩm, chúng ta cảm nhận được niềm hân hoan hiện rõ trong những nốt nhạc thánh thót một cách tưng bừng…” Phụng ngưng nói, đưa mắt nhìn ông thầy chùa.

Khuôn mặt vuông và hàm râu quai nón đã cạo được vài ngày lúc này nổi lên thành một cái quai tua tủa quanh mặt khiến ông thầy nhác trông như hòa thượng Lỗ Trí Thâm trong truyện Thủy Hử.

“Cô Phụng nói tiếp đi. Tôi đang nghe đây mà,” ông thầy chùa mỉm cười hiền từ nói, ‘Anh Sơn cũng đang nghe cô nói đấy, phải không anh Sơn?” ông quay qua người đàn ông đang ngồi ôm chai rượu giấu bên dưới hai đầu gối.

“Vâng,” người đàn ông gục gặc đầu nói, “Phụng nói chuyện lôi cuốn và hấp dẫn lắm đấy. Thảo nào học trò chẳng mê cô giáo dạy Văn. Hãy nói tiếp cho thầy Hải và anh nghe đi chứ. Ừ, cái chuyện thấy biết…

Mặt trời buổi hoàng hôn đang gom vạt nắng cuối cùng đỏ ối trên cỏ cây và bờ sông, rải đều các tia nắng nhảy chấp chới trên mặt nước.

“Người ta nghe thấy bản nhạc này diễn tả điều gì,” Phụng nói tiếp, “cũng như người ta xem thấy bức tranh này vẽ cái gì, hay đọc thấy bài thơ này nói lên điều gì. Có thấy là có ngộ, phải không thầy?” nàng bật cười, khẽ đập bàn tay nhỏ nhắn, thanh tao vào bờ vai vuông vức của ông thầy chùa. “Cũng hay, tiếng Anh nói tôi hiểu là I see, mà see là thấy. I see…tôi hiểu. Vậy thì thấy là ngộ phải không thầy?”

”Có thấy có ngộ,” ông thầy chùa lẩm bẩm, mỉm cười.

Sơn bỗng nói, “Ngày mai ba người chúng ta sẽ chia tay nhau, chẳng biết lúc nào còn hội ngộ vui vẻ như vầy. Phụng ra nước  ngoài, tôi xuôi xuống miền nam, mỗi người đều có công việc riêng để làm, không biết trong bao lâu, nhưng có lẽ là lâu…lâu lắm đấy…Thầy thì vẫn trụ lại với ngôi chùa và dòng sông yên bình này. Mong rằng thầy vẫn an trụ…”

“An trụ như nhiên,” ông thầy chùa cười nói, “Tôi sẽ còn gặp lại ông Sơn và cô Phụng mà. Đường đời dày đặc đầy bất trắc, ai biết được sẽ như thế nào mà chúng ta phải luận bàn lôi thôi nhỉ? Nhưng tôi hy vọng ba người chúng ta sẽ luôn gặp lại nhau dù ở trong một tâm thức nào đi nữa.”

“Ừ phải, tâm thức đôi khi nhảy múa loạn xạ không cùng,” Sơn nói với giọng trầm hẳn xuống, “Đôi khi nó nằm yên như dòng sông hiền hòa kia, đôi khi nó nhảy lồng lên như trận gió ban nảy vừa tấp vào chúng ta…”

“Ừm, đó là do tâm cảnh,” ông thầy chùa chậm rãi nói, “Cảnh nảy sinh thức. Thức sẽ tùy duyên biến hóa. Bức tranh vân cẩu của đời người mà chúng ta nên sống tương thuận theo nó chứ không phải tương sinh tương diệt để mà…”

“Mà chết tức thì ngay bây giờ hả thầy?” Phụng bật cười.

“Chết ngay đứ đừ,” ông thầy cười ha hả.

Nắng hoàng hôn đã được gom về ở tận chân trời. Không gian mờ tối và lắng đọng quanh bờ sông đang êm đềm trôi vào giấc ngủ.

Ba người lục tục đứng dậy, đi ngược lên dốc, về phía ngôi chùa còn thấy được những cái mái cong vút chọc lên trời giữa những tàng cây bồ đề sum suê. Bản trường ca của dế đang bắt đầu hòa vang và lẩn khuất đâu đó bên dưới chân họ.

Phụng níu tay ông thầy nói, “Kìa, thầy bị rụng mất mấy cái răng cửa vậy?”

Ông thầy cười, đưa tay lên miệng rờ rẩm rồi nói khẽ, “Ừ, mấy cái răng cửa bị luật vô thường chi phối đó mà!”


    Vĩnh Hiền 69 Nguyễn Thái Học, Nha Trang. ĐT: (058) 3874153

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
02/05/2015(Xem: 5450)
Khi tôi gặp Thầy lần đầu tiên, tôi thật sự là một kẻ phàm phu tục tử có đầy đủ tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến, đã chẳng tu mà chỉ biết hú là giỏi. Mặc dù tôi được sinh ra từ một gia đình có tiếng là theo đạo Phật lâu đời, nhưng từ khi có sự hiểu biết, tôi thấy bà và mẹ chỉ đi chùa mỗi năm vài lần vào dịp lễ lớn, cũng lạy Phật, thắp hương, khấn vái sì sụp gì đó rồi… hết. Còn tôi thì sao, tôi bị sinh ra vào những năm sau cuộc chiến, tưởng là hòa bình lập lại thì dân giàu nước mạnh, tôn giáo được tự do phát triển không ngờ mọi việc hoàn toàn ngược lại, ăn còn không đủ no nói gì đến việc đi chùa nghe Pháp, đọc kinh. Tóm lại tôi hoàn toàn mù tịt về Phật Pháp.
02/05/2015(Xem: 6626)
Tôi gặp nàng tại Đại nhạc hội Việt Nam tổ chức tại Düsseldorf vào một mùa Giáng Sinh xa xưa nhưng không bao giờ quên được dù nàng lúc đó lẫn lộn giữa rừng người đông đảo. Nàng không xinh đẹp tuyệt trần, không ăn mặt lòe loẹt nổi bật, cũng không hoạt bát ồn ào gây sự chú ý của mọi người. Nhưng đối với tôi thì nàng thật đặc biệt với dáng vẻ đoan trang thùy mỵ, với đôi mắt dịu dàng và với sự im lặng của nàng trong một góc vắng của hội trường. Nàng đứng đó, tay cầm một cuốn sách nhỏ, vừa đọc vừa... gặm bánh mì, thỉnh thoảng lại ngước mắt lên nhìn xung quanh coi có gì “lạ” không rồi lại cắm đầu vào cuốn sách, cứ y như trong đó có chỉ chỗ giấu kho vàng vậy!
01/05/2015(Xem: 19142)
Được làm con Phật là điều vừa đơn giản, vừa hy hữu. Đơn giản, vì sinh ra trong một gia đình Phật giáo thì tự động theo cha mẹ đi chùa, lễ Phật, tin Phật ngay từ bé. Hy hữu, vì biết lấy Phật giáo làm lý tưởng đời mình và chọn sự thực hành Phật Pháp như là sinh hoạt nền tảng hàng ngày—không phải ai sinh ra trong gia đình đó cũng đều tin Phật từ nhỏ đến lớn, và nếu tin Phật, cũng không gì bảo đảm là hiểu Phật, thực hành đúng đắn con đường của Phật để gọi là con Phật chân chính.
23/04/2015(Xem: 4291)
Năm nay 2015 tôi có đến ba mùa Xuân. Đó là mùa Xuân của nước Đức, mùa Xuân của nước Nhật và mùa Xuân của Hoa Kỳ. Thông thường mùa Xuân bắt đầu vào cuối tháng 3 dương lịch và kéo dài ba tháng như vậy, để thuận với lẽ tuần hoàn của vạn hữu là Xuân, Hạ, Thu, Đông; nhưng cũng có nhiều nơi mỗi năm chỉ có hai mùa như quê tôi Việt Nam, là mùa mưa và mùa nắng. Trong khi đó Âu Châu, nhất là vùng Bắc Âu, mỗi năm cũng chỉ có hai mùa. Đó là mùa lạnh kéo dài nhiều khi đến 6 hay 7 tháng và mùa ấm chỉ có chừng 3 đến 4 tháng là cùng. Dĩ nhiên là sẽ không có mùa Hè và trời vào Thu lại nhanh lắm, để đón tiếp một mùa Đông băng giá lạnh lùng.
15/04/2015(Xem: 15315)
Một sớm mai nọ, tôi không nhớ ngày ta, ngày tây, chỉ nhớ đầu năm 1984. Buổi sáng hôm ấy đầy dáng Xuân cả đất trời Nam Hà, khi tôi và hằng trăm tù nhân chính trị trên đường đến hiện trường lao động ở dải đất dài, mà hai bên toàn là núi đá vôi cao, thấp trùng trùng, điệp điệp. Người địa phương Ba Sao gọi là THUNG.
31/03/2015(Xem: 24927)
Dianne Perry, (sau này được biết đến qua pháp danh Tây Tạng của cô là Tenzin Palmo) là một vị ni cô người Anh đầu tiên, đã ẩn cư thiền định suốt 12 năm trong một hang động cao 12.300 bộ trên dãy Hy Mã Lạp Sơn, cách ngăn khỏi thế giới trần tục bởi những rặng núi phủ đầy tuyết trắng quanh năm. Tenzin Palmo đã sống một mình và tu tập trong động tuyết này. Cô đã chạm trán với những thú rừng hoang dã, đã vượt qua những cơn lạnh khủng khiếp, những cái đói giết người, và những trận bão tuyết kinh hồn; cô tự trồng lấy thực phẩm và ngủ ngồi trong cái hộp gỗ rộng cỡ 3 bộ vuông (theo truyền thống Tây Tạng, các vị tu sĩ đều tọa thiền trong một cái hộp gỗ như vậy). Cô không bao giò ngủ nằm. Mục đích của Tenzin Palmo là chứng đạo trong hình tướng một người nữ.
18/03/2015(Xem: 7926)
Tôi sinh ra ở miền sông nước Nam Bộ của xứ Việt. Nhưng thật lạ, phải gần nửa đời tôi mới bắt đầu nhận ra mình vốn yêu sông nước. Tôi yêu quê từ những miền đất lạ mà mình đi qua, và tệ nhất khi đôi lúc chỉ là những nơi chốn xa ngái mịt mù chỉ nhìn thấy trong sách vở, phim ảnh. Và kỳ chưa, đó cũng là cách tôi yêu đạo Phật. Ăn cơm chùa từ bé, nhưng phải đợi đến những giây khắc nghiệt ngã, khốc liệt nhất bình sinh, tôi mới nhìn thấy được rõ ràng nụ cười vô lượng của đức Phật bất chợt hiện lên đâu đó cuối trời thống lụy.
05/03/2015(Xem: 4745)
Có những kỷ niệm tưởng rằng sẽ mờ nhạt theo tháng ngày tất tả, trôi xuôi đến tận cùng triền dốc của cơm áo xứ người. Nhưng không, mỗi khi trời đất đổi mùa thì lòng người lại bâng khuâng, ký ức lại hiện về rõ nét, dù đó là một khoảng thời gian đã qua, một ký ức đã xa... Chỉ còn lại trong tim nhưng cũng đủ xót xa lòng khi nhớ đến! Hình ảnh bà cụ già nua ốm yếu, ngồi cô đơn trong căn chòi tranh rách nát, vào một buổi chiều âm u buồn thảm vẫn còn đậm nét trong lòng tôi, nhớ đến là bồi hồi xao xuyến cả tâm can. Buổi chiều ở Đồng tháp Mười buồn quá sức, buồn đến não nuột xót xa, một chòi tranh nằm chơ vơ bên con lạch nước đục ngầu, không người qua lại, xung quanh chỉ có tiếng ếch nhái than van!
07/02/2015(Xem: 6161)
Một trong tôn giáo cổ xưa Có thầy tu nọ rất ưa tế thần Tuy ông nổi tiếng xa gần Nhưng mà mê muội tâm thần nhiều thay. Một hôm ông chọn dê này Cho rằng thích hợp, giết ngay tế thần Nghĩ suy lầm lạc vô ngần:
25/01/2015(Xem: 9666)
Tác phẩm Một Đóa Sen, được diễn nói về vận hành tầm sư học đạo của Sư bà Thích Nữ Diệu Từ, thật là gian truân trăm bề, được thấy từ khi mới vào “Thiền Môn Ni Tự” ở các cấp Khu Ô Sa Di, Hình Đồng Sa Di, ứng Pháp Sa Di và Tỳ Kheo Ni ở tuổi thanh niên mười (10) hạ lạp rồi, mà vẫn còn gian nan trên bước đường hành hoạt đạo Pháp. Nhưng Sư bà vẫn định tâm, nhẫn nhục , tinh tấn Ba la mật mà tiến bước lên ngôi vị Tăng Tài PGVN ở hai lãnh vực văn hóa quốc gia và Phật Giáo Việt Nam một cách khoa bảng. Nếu không nói rằng; tác phẩm “Một Đóa Sen và Pháp thân” của Sư bà Diệu Từ, là cái gương soi cho giới Ni PGVN VN hiện tại và hậu lai noi theo…