Nỗi buồn lưu vong

07/04/201711:13(Xem: 5362)
Nỗi buồn lưu vong


30 thang tu
Nỗi buồn lưu vong
Nguyên Hạnh HTD

 

 

      Ba mươi tháng Tư lại về!

      Những tưởng những năm tháng lưu đày nơi xứ người đã làm chúng ta khô cằn như sỏi đá, những tưởng những ngày tháng lao đao theo cuộc sống với tuổi đời càng chồng chất đã làm cho chúng ta quên dần những ngày tháng cũ. Nhưng không, những ngày lưu vong vẫn còn đậm nét u hoài trong lòng tôi mãi mãi.

      Tôi luôn luôn ngậm ngùi nhớ lại ngày nào, tuy đã chuẩn bị trước ngày ra đi cả tháng trời, đến phút ra đi lòng tôi vẫn bàng hoàng bối rối. Trong đời, tôi đã gặp nhiều cuộc chia ly nhưng đây lại là cuộc chia ly trọng đại cho cả một gia đình. Cái cảm giác mất mát cứ ám ảnh tôi suốt cả những tháng ngày chờ đợi. Dù những người thân yêu ruột thịt, cả bạn bè quyến thuộc đang xúm xít quanh tôi, vậy mà tôi vẫn thấy mình đang để vuột khỏi tầm tay  với của mình tất cả. Tôi muốn nói, muốn làm một cái gì đó cho người ở lại, vậy mà tôi cứ lừng khừng như kẻ vô tình, ngơ ngẩn như một người mộng du.

      Sân bay đông nghẹt kẻ đi và người đưa tiễn. Tiếng cười nói, tiếng khóc, tiếng chào xôn xao, rộn rịp vậy mà tôi vẫn thấy chập chờn, lao xao như đang ở trong mơ. Đúng là tôi đang mơ, một giấc mơ dài và phút biệt ly thực sự bắt đầu! 

      Tôi đi vào phòng cách ly với những bước chân ngỡ ngàng, không dám nhìn lại người thân với những khuôn mặt đầm đìa nước mắt, với những nụ cười tiễn biệt đang chới với vẫy tay. Vậy là tôi mất tất cả. ôi. Cảnh biệt ly sao mà buồn vậy.

      Cánh cửa máy bay đang rộng mở, cánh cửa của thiên đường hay cánh cửa của một tương lai vô định? Cho đến lúc này tôi cũng không hiểu được, tôi rời bỏ quê hương, giã từ tất cả quen thuộc, thân thương để được gì đối với cái tuổi " ngũ thập tri thiên mệnh" của mình? Chỉ có một câu trả lời đơn giản là tôi không chấp nhận được chế độ Cộng sản vô nhân và với tinh thần muốn được sống trong một đất nước đầy Tự do và Nhân bản. Tôi còn gì cho tôi khi phủi áo ra đi?

      " Một đi là chuốc nghìn thương nhớ"

      Và trong tôi chỉ còn lại nhớ cùng thương.

      Cánh cửa máy bay đóng lại, một lần nữa ngăn kẻ ở và người đi. Tiếng động cơ ầm ĩ chuyển động cũng không bằng tiếng gào thét của lòng tôi. Thân máy bay nâng lên, nâng lên cả ngọn triều thương nhớ.

      Dù muốn dù không, chuyến bay đã bay đi và đã hạ xuống phi trường Bangkok vào lúc mới hừng đông: Đúng là hình ảnh của một nhóm người lưu vong ngơ ngác giữa một sân bay xa lạ. Người hướng dẫn đưa chúng tôi vào một căn trại thô sơ, gồm những băng ghế dài, một bàn làm việc. Tôi có cảm giác như đang bước vào một hội trường ở quê nhà.

      Cả trăm người lếch thếch nằm ngồi, hành lý ngổn ngang đang chờ nghe hướng dẫn và làm thủ tục. Buổi cơm trưa gồm một hộp cơm nhỏ cho mỗi khẩu phần và lại đợi chờ. Sự chờ đợi tưởng như bất tận cho đến 5 giờ chiều mới có lệnh xếp hàng để ra xe đến trại chuyển tiếp. Xôn xao, ồn ào và vẫn có một số người không bỏ được thói quen chen lấn, tranh dành chỗ tốt. Gia  đình tôi thuộc loại " chậm chân " và ưa nhường nhịn nên lúc nào cũng xếp hàng cuối. Và thế là cùng với những gia đình có con mọn, chúng tôi lọt lại đằng sau, đứng ngồi hỗn độn giữa đường để chờ chuyến xe khác.

      Lại một hộp cơm mỗi người cho buổi chiều. Chúng tôi ngồi bệt giữa lòng đường, dưới ánh sáng vàng vọt của nắng chiều sắp tắt. Cùng với ánh đèn đường, chúng tôi ngồi xúc cơm ăn như một đám khất thực, chợt nhớ đến Vu Lan vừa tổ chức xong trước ngày đi, tôi buột miệng " mình đi vào tháng 7 có khác ". Quả tình, chúng tôi thảm thương như đám cô hồn tháng 7.

      Đến 8h30 tối, chuyến xe kế tiếp mới đưa chúng tôi đến trại kế tiếp. Cảm giác đầu tiên khi đặt chân đến đây là sự chán nản và tủi nhục. Gần 200 người với mớ hành lý ngổn ngang, mỗi gia đình choáng một khoản nền nhà nằm ngồi hỗn độn. Mỗi người được phát một chăn len thay cho cả gối cùng chăn. Và thế là qua một đêm trên đất người với sự ấm ức phiền muộn. Một ngày đầu ly hương không gây cho tôi một ấn tượng tốt đẹp nào. Suốt một đêm thức trắng để chuẩn bị chuyến đi và một ngày dài chờ đợi, chúng tôi đã thiếp đi trên sàn nhà lạnh với giấc ngủ mệt nhoài. Và tỉnh dậy, đón một ngày kế tiếp với mặc cảm của một con người lưu vong.

      Suốt những ngày lưu lại ở trại chuyển tiếp, chúng tôi hết xếp hàng đứng nghe hướng dẫn thủ tục nhập cư, lại ngồi bệt trên sàn nhà để học tập nếp sống văn minh của xứ người v..v.. chỉ quanh quẩn trong khuôn viên của trại, mỗi ngày được phát hai bịch cơm, mỗi bịch gồm hai trứng  gà luộc và một bịch canh nhỏ xíu. Và, " một ngày như mọi ngày", chúng tôi phát ngấy lên với món trứng gà luộc, cho đến 5 ngày sau mới được gọi xếp hàng, chuẩn bị khám sức khỏe, đi chuyến bay đến Frankfurt, sau đó đổi máy bay về  München.  

      Chúng tôi mừng như vớ được của, rối rít thu xếp hành lý trước con mắt thèm thuồng của những người bị trục trặc giấy tờ hoặc hoàn cảnh gia đình phải tiếp diễn những ngày gò bó trong trại chuyển tiếp này. Chúng tôi lên xe ra sân bay từ 6h chiều mặc dù 3h sáng hôm sau mới có chuyến bay. Vậy là lại những giây phút chờ đợi và mất ngủ đến rã cả người.

      Những chuyến bay kế tiếp này đã xóa bỏ bớt mặc cảm tủi nhục trong tôi. Những tiếp viên phi hành đón tiếp chúng tôi lịch sự, niềm nỡ, không có gì phân biệt với các hành khách khác. Và chuyến bay cuối cùng đã hạ cánh, chấm dứt cuộc hành trình.

      Gia đình tôi đã được con trai cùng rất đông cộng đồng đón tiếp, tiếng chào hỏi, nói cười ầm ĩ, vui vẻ. Những máy ảnh đưa lên, máy quay phim quét ngang quét dọc. Sự niềm nỡ của mọi người đã đánh tan bớt mặc cảm lạc lỏng của chúng tôi trong suốt chuyến bay vừa rồi.

      Khi mọi người đã ra về hết, chỉ còn lại gia đình tôi trong căn phòng của trại định cư, tôi mới như người vừa chợt tỉnh giấc mơ, ý thức rõ ràng rằng cuộc sống mới đã thực sự bắt đầu. Nhưng trong tôi vẫn còn cảm giác bàng hoàng ngơ ngẩn. Tôi không còn gì để mà có và cũng không có gì để mà mất. Có chăng chỉ là nội tâm ray rức của một con người vừa lìa bỏ những người quen thuộc thân thương để nhận lấy những ngỡ ngàng xa lạ của cuộc sống mới.

      Hành trang kiến thức của tuổi trẻ, các con tôi gần như đã bỏ hết trên quê hương. Trên đất người, những đứa con đã trưởng thành của tôi, giờ đây ngơ ngác, rụt rè như những đứa bé con, bập bẹ những tiếng nói câu chào. Chúng tôi mất hết niềm tự tin của mình khi đối diện với mọi người, mặc cảm " ăn nhờ, ở đậu " đeo đẳng tôi ngày càng nặng trĩu, nhất là trong những ngày đi làm thủ tục, phỏng vấn, xin trợ cấp tị nạn, đi thi xếp lớp học ngôn ngữ bản xứ. Tôi vừa buồn cười, vừa muốn khóc.

     Hỡi ôi! Ở cái tuổi đang dần về chiều như tôi mà còn bập bẹ học nói như con sáo, con vẹt và chua chát khi nhìn những người đồng hương nét mặt tự hào khi vờ quên tiếng mẹ đẻ và nói sỏi tiếng ngoại bang. Biết làm sao hơn, ôi nỗi buồn nhược tiểu!

     Một lần nữa, trong tôi lại gào thét một nỗi đau chua xót ngấm ngầm của một con người đánh mất ngay cả chính mình. Cũng may, tôi còn giữ lại cho tôi tấm lòng của người mẹ và tôi bám víu vào đó, tựa vào đó, để quên mình, quên đi những buồn phiền tủi nhục; với nguyện vọng hy sinh những ngày còn lại cho con, ước mong các con được học hỏi, tiến thân. Đôi lúc nhìn lũ con vùi đầu ngày đêm bên những trang sách, tiếng Đức lại quá khó, tôi vừa xót xa vừa vui; nỗi vui của người mẹ nhìn con mình đang bước từng bước đến tương lai, hy vọng là tươi sáng hơn nhưng cũng xót xa cho đàn con mình đã đến tuổi trưởng thành, lại phải bắt đầu những bước đi tập tễnh trên con đường học vấn.

     Trong buổi giao thời " dầu sôi lửa bỏng " của quê hương, tôi đã vượt qua bao thăng trầm của cuộc sống, một mình đương đầu với bao nghịch cảnh, chống chọi với nỗi đau bị chà đạp, hất hủi rẻ khinh, niềm tự hào của người mẹ bất chấp khó khăn để nuôi con ăn học thành tài. Bây giờ còn gì? Tất cả chỉ là đôi bàn tay trắng!

     Đôi lúc nhìn lũ con, đã gần đến tuổi " tam thập nhi lập " và công đã thành, danh đã toại, bây giờ lại hì hục " dùi mài kinh sử ", thật tôi bắt cười đến rơi nước mắt!

      À, thì ra đổi đời là vậy! Đổi đời là đổi luôn cả tuổi tác và thế thái nhân tình. Cuộc sống mới! Nghe như một cảnh đời tươi đẹp hơn, khả quan hơn.

      Với thân phận nhược tiểu của chúng tôi, cuộc sống mới là bắt đầu lại từ đầu. Những gì mà chúng tôi đã tạo dựng trên quê hương, đều đã vứt bỏ trở lại. Cái cử chỉ của một con bạc cháy túi, rời bỏ chiếu bạc, cũng thê thảm như hoàn cảnh của kiếp lưu vong chúng tôi mà thôi!

      Tôi không phủ nhận nếp sống văn minh và đầy đủ vật chất ở xứ người, tôi cũng không hồ đồ để không nhận thức được cuộc sống tự do, đầy tình nhân đạo nơi xứ người; đã ra tay cứu vớt bao gia đình lâm vào ngõ cụt như gia đình chúng tôi nhưng bên cạnh sự cảm nhận và tri ân đó, tôi vẫn ôm một nỗi sầu xa xứ và xót xa cho thân bằng quyến thuộc của tôi còn lại trên quê hương; đang thiếu thốn mọi thứ, từ miếng cơm manh áo cho đến những tiện nghi tối thiểu cần có của một con người. Và điều tối thiểu cần thiết nhất cho đời sống con người là được hít thở bầu không khí Tự do và Công bằng cũng bị tước đoạt; vì vậy tuy đã thoát khỏi gọng kèm xiết chặt của chế độ phi nhân, trong tôi vẫn cứ mãi u hoài xót xa vì nỗi buồn lưu vong!

      Giờ đây, với hai bàn tay đã bắt đầu rã rời vì năm tháng, với một thể xác gần đất xa trời, với một khối óc bỏ trước quên sau, tôi sẽ làm được gì đây? và tôi đã khóc, " tuổi già hạt lệ như sương "; tôi khóc tức tưởi, khóc tủi nhục và đau thương – Ôi! Tôi đã bỏ lại sau lưng tôi một quê hương yêu dấu và những người tôi yêu thương còn ở lại!

 

                                                                             Mùa Tháng 4/ 2017

                                                                                                Nguyên Hạnh HTD




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
14/09/2012(Xem: 7673)
Những câu chuyện thật chốn Thiền môn do các bậc trưỡng lão kể lại luôn luôn là những bài học hay nhất, là nguồn động lực lớn nhất cho các thế hệ mai sau noi gương trên con đường tu học. Trường hạ của Giáo Hội Thống Nhất tại Úc Châu – Tân Tây Lan năm nay tại Tu viện Vạn Hạnh Canberra, ngoài những buổi lễ trang nghiêm thành kính, ngoài những giờ sám hối thanh tịnh, ngoài hình ảnh chư Tôn đức với màu huỳnh y giải thoát, mỗi tối chư Tôn Đức Tăng Ni còn có những buổi thảo luận thật hoan hỷ, sôi động, không khí gần gũi nhưng không kém phần trang nghiêm. Những câu chuyện thật về công đức tu hành trong chốn thiền môn đã được chư Tôn kể lại, bài học “giữ tâm một chỗ, việc gì cũng xong”, trong đó việc sanh tử là việc lớn nhất của người xuất gia, từ ấy đã được lan xa….
21/08/2012(Xem: 6126)
Kính mời quý vị, quý bạn, quý Phật tử thưởng thức một truyện ngắn thực pha lẫn hoang đường, vừa có tính huyền bí vừa có tính cách triết lý, để thấy cuộc đời này tưởng như thực nhưng không có gì thực cả. Tất cả do tâm thức biến hiện. Thần linh chỉ là trò che mắt chúng sinh.
20/07/2012(Xem: 21083)
Nhìn chiếc cổng tre hai cánh mở bám đầy rêu xanh, an nhiên giữa tuyết sương, năm tháng - bất chợt, người con nhớ đến một câu thơ của ai đó: Cửa sài hai cánh mở...
03/07/2012(Xem: 4333)
Ni sư Ryonensinh năm 1797. Cô là cháu nội của Shingen, một vị tướng Nhật nổi tiếng. Sắc đẹp quyến rũ và thiên tài về thi ca đã khiến cô trở thành một công nương trong triều đình, kề cận bên hoàng hậu khi mới 17 tuổi. Tuy còn quá trẻ như thế nhưng danh vọng đã chờ đón cô.
14/06/2012(Xem: 36725)
Tuệ Sỹ Đạo Sư - Thơ và Phương Trời Mộng - Tập 2, Ban Tu Thư Phật Học Hải Đức Nha Trang ấn hành... Nguyên Siêu
23/05/2012(Xem: 6366)
Cách chùa khoảng một trăm mét, xéo về phía tây, dòng sông chảy hiền hòa uốn quanh thôn làng, bao bọc gần hết chu vi ba mặt của xóm nhỏ, chừa mặt tây trông ra ngọn núi hình dáng như người nằm ngủ nghiêng mà ở khúc đuôi của nó như một bàn chân đang chỉa năm ngón lên trời. Ba người ngồi trên bãi cát hẹp của bờ sông. Phía trên đầu, gió chiều đang luồn qua lùm tre tạo ra những âm thanh xào xạc dễ chịu.
23/05/2012(Xem: 9628)
Bà già nhìn xuống dòng sông nước đục lờ, dõi theo một khúc gỗ đang trôi lững lờ theo con nước dập dềnh lên xuống đến khúc quanh ở cuối làng, nơi hai ống khói cao nghệu của nhà máy thả lên trời những cụm khói đen bay tản lạc trong gió chiều hoàng hôn. “Mới đó mà đã 20 năm, ông nhỉ?” bà nói mà không nhìn vào ông già ngồi cách mình một sải tay, trên phiến đá bám đầy rêu xung quanh hông.
10/05/2012(Xem: 10333)
Tập sách bạn đang cầm trên tay là bản dịch Việt ngữ của cuốn ‘The Snow Lion`s Turquoise Mane’. Cuốn này do Surya Das tập hợp các mẩu chuyện do các vị Lạt-ma Tây Tạng kể lại, được xuất bản năm 1992 tại Mỹ. Các mẩu chuyện ngắn này nhắc nhở đến những chuyện liên quan đến các vị đạo sư, từ đức Thích-ca cho đến các vị hiện nay còn sống như Đạt-lai Lạt-ma. Phần lớn các mẩu chuyện này toát ra nhiều đạo vị, nhất là gián tiếp chỉ cho người đọc thấy triết lý của toàn bộ đạo Phật, đó là nhận chân ra rằng mọi hiện tượng muôn hình muôn vẻ của tâm vật chẳng qua đều là biến hiện của tự tính trong tâm thức mọi loài. Đó là tự tính vô thủy vô chung, bất sinh bất diệt, lại không hề rời xa con người, nhưng trực nhận ra điều đó là một quá trình tu học gian nan mà các mẩu chuyện này cũng có nhắc đến.
09/05/2012(Xem: 6271)
Bác sĩ Quách Huệ Trân là một bác sĩ chuyên khoa ung thư, bà rất nhiệt thành và tận tâm trong công việc. Lòng từ bi và thuần thành của bà không những đã đem lại sự khích lệ to lớn cho bệnh nhân mà còn cảnh giác cho những người khỏe mạnh, làm cho nhiều người phát tâm học Phật và niệm Phật. Sau đây là bài nói chuyện với các bạn học ở Huệ Trí Phật Học Xã của Đại học Trung Nguyên, nội dung rất phong phú cảm động. Tuy là đang bị bệnh ung thư trầm trọng, bác sĩ Trân vẫn ráng chịu đau và dùng Tín, Nguyện niệm Phật vô cùng kiên cố của mình để lên giảng đài thuyết pháp. Khi tuyên bố bị bệnh bà nói: “Bây giờ vừa đúng lúc để tôi nhất tâm niệm Phật và chuẩn bị vãng sinh”. (Sau lần nói chuyện này bác sĩ Trân từ chức và lên núi xuất gia).
26/04/2012(Xem: 20120)
"Chuyện Tình Của Liên Hoa Hòa Thượng" được phóng tác từ một câu chuyện lịch sử trong quyển "Lịch Sử Phật Giáo Đàng Trong"... Thích Như Điển