Miếng khoai khô

16/01/201513:45(Xem: 5224)
Miếng khoai khô

khoai lang

 

      Sau 30-4-75, tất cả giáo chức chúng tôi đều phải đi học tập chính trị trong suốt 3 tháng hè mà họ gọi nôm na là "bồi dưỡng nghiệp vụ".

      Một buổi chiều sau mấy ngày "bồi dưỡng", tôi đạp xe lang thang qua vùng Trương minh Giảng, tình cờ gặp Báu - một người học trò năm xưa, rất xưa, đang ngơ ngẩn đứng trước cửa nhà. Dừng xe đạp, tôi chào:

    - Báu hả? Phải em là Trương thị Báu không? Có nhớ ra cô không?

      Báu giương mắt nhìn tôi, nhìn đi nhìn lại rồi nghiêng đầu lại nhìn...Em không nhớ nổi... Tôi đã thoáng thấy được một tâm thần bất thường qua thần sắc cũng như qua đôi mắt trống rỗng vô hồn!

      Tôi nhắc lại:

    - Nhớ cô D. không? Cô D. dạy toán em hồi Đệ Tứ. Nhớ ra không? Em học cùng lớp với bọn con Hiếu, con Tịnh An ở Cầu Đất đó, nhớ ra chưa?

      Em thụt lùi vài bước, lại nhìn sâu vào mắt tôi, vẫn đôi mắt lạc thần, ngập ngừng lập lại từng hai tiếng một:

    - Cô D....Dạy Toán....Đệ Tứ... Vẫn chưa nhớ, tôi nối thêm:

    - Đồng Khánh! Nhớ chưa?

      Mắt em bỗng sáng hơn:

    - Đồng Khánh...Đồng Khánh...Trường Đồng Khánh Huế ! Phải không cô?

      Em bước mấy bước lại gần tôi hơn, nghiêng đầu xuống, nhìn vào bên trong chiếc nón lá tôi đang đội để nhìn gần sát mặt tôi. Mắt em bây giờ đã có thần hơn một chút, em lại lẩm bẩm:

     - Cô D. Dạy Toán. Trường Đồng Khánh. Thiệt mà! Trường Đồng Khánh của tôi mà! Phải rồi, tui có học trường Đồng Khánh mà!

      Bỗng em tiến sát tới tôi hơn, quều quào đưa hai tay ôm chầm lấy vai tôi; mắt long lanh mà khô sủng như đôi mắt của những kẻ vẫn hằng khóc không nước mắt, miệng cứ lặp lại mấy lần những tiếng không tròn ý:

    - Em có học Đồng Khánh. Phải không Cô? Em cũng là một nữ sinh Đồng Khánh. Phải không cô? Cô nói cô có dạy em đó! Phải không cô?

      Vừa hỏi em vừa day đôi vai tôi, giọng van lơn cầu khẩn, liên tiếp hỏi mà không cần câu trả lời. Báu vuốt dọc hai cánh tay tôi từ vai xuống, rồi nắm lấy hai bàn tay tôi đưa qua lắc lại như hai đứa bé đang chơi trò dung dăng dung dẻ, lại tiếp tục: "Phải không cô" mà không cần nhìn thấy cái đầu tôi liên tiếp gật và miệng thì "ừ phải, ừ phải" biểu đồng tình.

      Qua một lúc xúc động quá bất ngờ, em dần dần bình tĩnh đôi chút; cũng biết mời cô vào nhà, cũng biết mời ngồi, mời uống nước như những động tác căn bản của một người con gái Huế đàng hoàng không mất trí. Em cũng biết mời cô "thời" nước bằng một ly nước lạnh không có dĩa, vào nhà trong bưng ra bằng cả hai tay một cách lóng cóng. ( Ở Huế, đối với người lớn tuổi, không dùng chữ ăn và uống để mời).

       Ly nước được đặt lên một cái bàn gỗ cũ kỹ bên cạnh một dĩa khoai lang luộc gồm một củ đã cắt làm hai miếng.

    - Mời Cô "thời"!

      Một cháu bé gái chồm lên bàn, với lấy miếng khoai. Báu đưa tay gạt con:

    - Con không được hổn. Rồi lại mời Cô.

      Cháu bé trạc độ 6 tuổi, có vẻ bịnh, lại chụp đòi và khóc. Báu lại gạt, lại quay qua mời tôi:

    - Cô "thời" với em một miếng đi Cô. Cô "thời" cho em vui. Mấy thuở mà! Cô đừng sợ em thiếu. Nhà em lao động, được mua đủ phần độn, em không đói mà. Cô "thời" một chút đi Cô, một miếng cũng được.

 

 

      Báu mời dẻo dai tha thiết, lời lẽ trôi chảy bình thường khiến tôi quá ngạc nhiên. Hình như cái phần gọi là lịch sự, sự che đậy, cách giữ bề ngoài tối thiểu của một phụ nữ Huế thì vẫn nguyên vẹn, không hề bị phai mờ trong một trí tuệ hầu như đã mất hết chức năng. Nhưng tôi làm sao mà“ thời“ cho nổi những miếng khoai lang của "thời đại nhu yếu phẩm" vào cuối năm 78 mà tôi là người thấm thía trong cuộc.

      Khẩu phần lương thực hằng tháng của người lao động trí óc được 9 kg, lao động chân tay được 12 kg trong đó có 3 kg gạo, còn lại là bo bo, bột mì, mì sợi, khoai lang nửa sùng nửa úng. Nhà nào cũng "khoái ăn sang"; tới sở, tới trường Tào Tháo rượt chạy té khói!

      Trong khi đó bé gái cứ cố thò tay bốc khoai không được với mẹ, khóc ầm lên. Tôi lấy nửa củ đưa cho cháu trước vẻ mặt không vui của Báu.

      Chợt Báu chùng giọng xuống, quay lại chuyện cũ với vẻ mặt van lơn:

    - Cô, có phải em học trường Đồng Khánh không Cô? Giọng em càng tha thiết hơn.

    - Có mà, Cô có nói đó. Cô có dạy em môn Toán đó. Nói đi Cô!  Cô nói cho họ nghe đi Cô. Nói cho họ nghe em cũng có Cô, có Thầy, có trường, em cũng có bạn...

       Báu hướng đôi mắt đỏ hoe nhìn về phía những người mà em gọi là "họ". Họ đây là một nhóm thanh niên đang làm sáo bằng cây hóp, trong đó có các con trai của Báu và chồng em - Nguyên là giáo sư một trường tư thục ở Huế; có lẽ là tổ trưởng của tổ hợp mành trúc.

      Lúc này giọng Báu bình tĩnh dần. Ánh mắt em chứa những tia nhìn van lơn như mong níu được cái phao cho một bằng chứng nào đó.

    - Cô nói đi Cô. Em có học với Cô mà, em có bạn mà!

    - Ừ, em có bạn chứ. Mấy con bạn xóm cột cờ, Cầu Đất, Tây Lộc, con Quý Hương, con Nhạn, con Hứa, Tịnh An, Thúy Hồng, Như Ngân v..v..Em còn nhớ không?

    - Dạ nhớ!

      Báu ngập ngừng nói cho lấy có, cố gắng mở đôi mắt không hồn nhìn khờ dại vào mắt tôi như cầu cứu ký ức mà tôi nghĩ đã bị tẩy xóa hầu như trọn vẹn của một kẻ tâm thần. Và Báu nhỏ giọng xuống:

     - Dạ em nhớ rồi. Em có bạn.

      Rồi bỗng la to:

     - Em là học sinh trường Đồng Khánh! Cô là Cô giáo Đồng Khánh! Báu đưa mắt về nhóm thanh niên đang nhìn, lặp lại: " em là một nữ sinh Đồng Khánh. Cô là giáo sư Đồng Khánh, Cô đến thăm em!”

      Niềm hãnh diện lớn lao vỡ oà trong tâm khảm, Báu khóc nấc lên, gục nghiêng mặt vào lưng tôi, nức nở từng tiếng đứt quãng, cũng không ngoài mấy từ "nữ sinh Đồng Khánh". Tôi nghẹn ngào cảm động, nước mắt rưng rưng, hết sức lúng túng mở miệng không ra nổi vài lời dù chỉ để phân chứng cho một kẻ mất hết trí nhớ nhưng vẫn còn nguyên vẹn niềm tự hào đã là một nữ sinh Đồng Khánh. Niềm tự hào đã được ấp ủ trong niềm sâu kín của tâm hồn từ lâu không được khơi dậy, không hề được chứng minh trong suốt cuộc sống hoàn toàn cách ly với khung trời tươi mát màu hoa Phượng sân trường ngày nào! Huống hồ một kẻ mất trí đầy mặc cảm, sống trong giai đoạn tối tăm của đất nước mà thức ăn vật chất đã quá gay go, nói chi đến những khiá cạnh tinh thần như những vuốt ve của lòng tự trọng.

 

      Ngồi thêm một lúc cũng chỉ để nghe Báu lặp đi lặp lại không chán mấy câu trên, tôi buồn bã ra về sau khi moi trong giỏ xách tặng Báu một số tiền của tháng lương vừa mới lãnh cùng với phần nhu yếu phẩm vừa mua được từ buổi học chính trị nghiệp vụ. Một gói bột ngọt nhỏ, một cái ruột xe đạp nhờ bốc thăm trúng nhưng lại là ruột xe Mini, trong khi xe tôi là loại 650.  

       Báu cầm mấy tờ giấy bạc lật qua lật lại, mở to đôi mắt ngơ ngẩn:

    - Răng Cô cho em ri?

      Ý hẵn em muốn tìm hiểu cái "lý do" của một tình thương, điều mà em ít nhận được trong cuộc sống của một kẻ đã mất phần trí nhớ.

 

      Cháu bé lại vói tay lên bàn, mon men lại gần dĩa khoai. Tôi cầm nửa củ khoai còn lại đưa cho cháu thì Báu giựt lại. Em cố nhét miếng khoai vào cái giỏ nylon tôi đang xách lên chào về.

      Giỏ nylon được dùng thay cho cái cặp xách đi dạy hằng ngày, để đựng cả nhu yếu phẩm phân phối từ trường học và tiện để móc vào ghi đông xe đạp. Tôi luồng tay vào giỏ lấy miếng khoai lang trả lại. Báu cũng biết tiễn tôi ra đường, lưu luyến vịn một tay lên ghi đông xe. Khi tôi buông tay treo giỏ để cầm ghi đông, Báu lẹ làng banh miệng giỏ thả lọt miếng khoai vào. Đến nước này thì tôi không thể từ chối được nữa, chỉ thay bằng một lời cám ơn. Một nụ cười sung sướng như nụ cười trẻ thơ khi chiến thắng nở xoè trên gương mặt mà trước đây còn tăm tối dại khờ!

      Vừa đạp xe chầm chậm, tôi vừa quay lại nhìn. Báu đang vẫy theo rất bình thường, đang cười vui vẻ cũng rất bình thường nhưng ai biết đâu trong cái vẻ bình thường đó lại ẩn chứa một cái gì không được bình thường!

      Quên đường xa với chiếc xe đạp cũ kỹ, cọc cạch; tôi miên man vui, xen lẫn chút bâng khuâng khi nghĩ đến một điều đơn giản có chăng mình đang đem lại cho người học trò cũ của mình vào những khoảnh khắc ít ỏi trong đời sống tinh thần dành cho một kẻ đã mất quá khứ!  

      Cùng lúc, tôi mang theo tâm trạng ra về với nỗi băn khoăn, thắc mắc nguyên nhân nào đã biến em thành con người mất trí. Phải chăng qua biến cố tháng 4-75 em đã chứng kiến cảnh đau lòng tử biệt lớn lao nào đó của thân nhân, hoặc kinh hoàng trong khi chạy giặc trước cảnh máu đổ, thịt rơi, hoặc... Tất cả chỉ là nghi vấn mà tôi không dám hỏi sợ khơi dậy trong em một ký ức đau buồn. Nó như một bài toán đầy ẩn khúc mà tôi, là một người dạy toán lại không thể nào lý giải ra cái đáp số ấy!

      Nửa củ khoai vẫn nằm im trong giỏ xách, tôi mang đi dạy hằng ngày, chen chúc cùng sách vở và những nhu yếu phẩm tạp loại cho đến khi khô héo!

     Hình ảnh"nửa củ khoai" đối với tôi là những ngọt ngào đắng chát thỉnh thoảng cứ dập dềnh trong ký ức, ray rức nhức nhối mỗi khi phải đổ bỏ thức ăn dư thừa ở xứ người.

     Dù hương vị ngọt ngào phải tìm ra trong đắng chát nhưng cái đắng chát của một thời gian khổ là cái sẽ hết, hình như đang hết và phải hết, trong khi cái ngọt ngào thì vẫn còn đâu đó.

 

      Đó là những kỷ niệm ấm áp, những phần thưởng nhỏ bé dễ thương; cái còn lại của cuộc đời nhà giáo mà tôi vẫn muốn nâng niu gìn giữ để làm hành trang cho cuộc đời về chiều của mình, trên lối đi và lối về.

 


Mùa 30- 4- 2013

Nguyên Hạnh HTD

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/03/2016(Xem: 16372)
Năm 1979 thường được coi là điểm khởi đầu của nền báo chí Việt ngữ tại Úc khi số đầu tiên của tờ Chuông Sài Gòn được phát hành tại Sydney. Tờ báo này xuất bản 2 tuần một lần và sau đó đã trở thành một tuần báo. Trong vòng bốn thập niên qua, truyền thông tiếng Việt đã trải qua thời kỳ phát triển không khác chi truyền thông của các cộng đồng văn hóa đa nguyên khác, theo nghĩa là ngành này đã phát triển về số lượng cũng như sức mạnh theo đà phát triển của cộng đồng nói tiếng Việt.
01/02/2016(Xem: 26441)
“Đế Minh” là cháu ba đời Vua“Thần Nông”tuần thú, chuyển dời phương nam Đến núi Ngũ Lĩnh, (Hồ Nam) (1) Gặp nàng “Tiêngiới” lấy làm hân hoan Kết duyên chồng vợ vẹn toàn Sinh con: “Lộc Tục” hiền ngoan nhất đời “Đế Minh” quyết định truyền ngôi
31/01/2016(Xem: 5466)
Dì Trang là em của má tôi. Nếu không kể bên phía má, tôi có thể gọi dì bằng vai thấp hơn. Đơn giản, ba tôi là chú của chồng dì Trang. Khi ba tôi rời Hà Tĩnh để vào Nam, vào một thời xưa lắm, nghĩa là nói kiểu dân gian là năm một ngàn chín trăm gì đó, có dẫn theo một người cháu.
31/01/2016(Xem: 4677)
Tôi trở về Huế với một tâm trạng nôn nao bồi hồi! Hơn 30 năm sau mới nhìn lại Huế thân yêu, nơi đã cho tôi mật ngọt của thời mới lớn! Phi trường Phú Bài vẫn vậy, vẫn u buồn ảm đạm vào mùa mưa lụt, dù đã mấy mươi năm qua cũng chẳng rộng lớn, sửa sang gì hơn. Đã thế, tôi đặt chân xuống phi trường khi trời đã về chiều nên càng hiu hắt buồn. Niềm vui rộn ràng chỉ bừng lên khi thấy một số bạn cũ đã đứng chờ sẵn bên ngoài. Chúng tôi chỉ biết ôm nhau trong tay với bao niềm cảm xúc, nhìn nhau miệng cười mà nước mắt rưng rưng!
30/01/2016(Xem: 7941)
Có một y viện huyện thuộc vùng cao nguyên Thái Lan, do giao thông bất tiện nên bệnh nhân phải đi từ sáng sớm đến bệnh viện để khám và kịp quay về nhà trước khi trời tối.
20/01/2016(Xem: 6544)
Xin có vài dòng tâm tư nơi đây. Truyện này có một tựa đề rát là phim bộ Hàn Quốc. Tác giả đã nghĩ tới các tựa đề khác cho nhẹ nghiệp tình -- thí dụ như “Tay Ai Chưa Nắm Một Lần” hay “Dây Chuông Ai Níu Bên Trời” – thì lại rất là cải lương, và chẳng hấp dẫn tí nào. Truyện này có thể có vài dị bản khác nhau. Nguyên khởi là viết cho Báo Xuân Việt Báo theo nhu cầu phải có chất lãng mạn thế gian. Cùng lúc, gửi cho nhà thơ Kinh Bắc để đăng trên ấn bản xuân tạp chí Suối Nguồn (của Trung Tâm Dịch Thuật Hán Nôm Huệ Quang), với lời dặn dò rằng xin nhà chùa tùy nghi sửa đổi, cắt bớt, hay thêm vào sao cho phù hợp với chánh pháp.
15/01/2016(Xem: 20503)
Ngày xưa ở tại ven sông Có chàng khỉ sống ung dung một mình Mạnh sức lực, lớn thân hình Thêm tài nhảy nhót tài tình kể chi. Giữa sông có đảo đẹp kia Bao nhiêu cây cối rậm rì xanh tươi Trái cây ngon ngọt khắp nơi Nào hồng, nào chuối chào mời khỉ ta. Từ bờ tới đảo khá xa May thay có đá nhô ra giữa dòng
13/01/2016(Xem: 20363)
Việt nam nước tôi có chiều dài lịch sử thăng trầm trãi qua nhiều thời kỳ chống giặc ngoại xâm để giữ vững và mở rộng biên cương tổ quốc. Rồi qua hơn ba thập niên kể từ năm 1945 đến năm 1975 của thời hiện đại lại thêm một lần nữa Tổ quốc ngập chìm trong khói lửa chiến tranh tương tàn mà cho đến tận ngày nay vết thương vẫn chưa chữa lành bởi vì người ta nhân danh chủ nghĩa này lý thuyết nọ là những ý thức hệ ngoại lai.
18/12/2015(Xem: 11101)
Mỗi chuyến đi đều có mỗi nhân duyên khác biệt. Chuyến đi Ai Lao lần nầy của ba huynh đệ: tôi, thầy Hạnh Giới và chú Hạnh Tuệ cũng có nhân duyên thật là đặc biệt. Thông thường chương trình của Thượng Tọa Phương Trượng được sắp đặt trước một năm, năm nay chúng tôi sang Úc với Thượng Toạ thời gian ba tháng, từ đầu tháng 10 đến đầu tháng 1 năm 2004. Chuyến đi nầy sẽ ghé Bồ đề Đạo tràng, vì thương quý thầy cô học tăng Việt nam, sinh viên trường Đại học Delhi, Thượng Toạ sang thăm Ấn độ mỗi năm một lần, để quý vị có cơ duyên được gần gũi, được nghe những lời huấn từ của Thượng Toạ và được tu tập bù lại phần lớn thời gian sống đời lưu học sinh, không chùa, phải ở ký túc xá sinh viên hoặc ở nhà trọ.
17/12/2015(Xem: 7105)
Ai cũng có những câu chuyện trong cuộc đời của mình. Có câu chuyện theo thời gian ta đã quên, nhưng cũng có câu chuyện làm cho ta nhớ mãi. Và khi ta kể ra, có người cho đó là vớ vẫn nhưng nó lại làm ta thay đổi cách nhìn, cách sống của mình. Câu chuyện cuộc đời của cậu bé Lucky đã trở thành một trong những câu chuyện huyền thoại của cuộc đời tôi. Vào một buổi sáng mùa đông lạnh giá, đó là ngày thứ 4, tôi ra mở cửa để đón chào ngày mới. Hôm nay ngày mới chào đón tôi bằng một chú mèo con mới sinh mà mẹ nó bỏ rơi trước cổng nhà đứa cháu. Dù đã được báo trước nhưng tôi không khỏi ngỡ ngàng trước hình dáng của một chú mèo sơ sinh. Người ướt sũng và tím tái. Chú được đựng trong một chiếc hộp giày và quấn trong một chiếc chăn. Tôi vội vàng đi lấy thêm những chiếc khăn khác để cuốn vào người cho bé.