Phần mở đầu

21/06/201311:45(Xem: 13047)
Phần mở đầu

Góp nhặt lá Bồ Đề.

Phần mở đầu

Hòa thượng Thích Tịnh Nghiêm

Nguồn: Hòa thượng Thích Tịnh Nghiêm

Lời Tựa

Tập truyện Phật giáo này, gồm trên 70 câu truyện, rút từ các kinh, luật và luận, hoặc những chuyện mắt thấy tai nghe, có liên quan đến Phật giáo, cũng đem vào.
Tập truyện này viết theo ký ức, nên không nhớ nhân danh, địa danh và thời gian. Mong chự vị độc giả thông cảm cho.
Những câu truyện trong đây viết bằng lối văn bình dân, mộc mạc, để người đọc dễ hiểu. Viết không thêm bớt và cũng không phê bình. Nếu có, cũng chỉ bình giải nhẹ thôi, mục đích để độc giả suy tư, phê phán và rút ra một bài học rồi áp dụng trong cuộc sống của mình.
Phải chẳng đời hay đạo cũng chỉ là những chuyện lặp đi lặp lại mà thôi. Nhân quả báo ứng, thưởng thiện phạt ác. Chủ đích khuyên răn mọi ngưiờ, dù đời hay đạo cũng phải tu nhân tích đức, ăn hiền ở lành thì cuộc sống mới được hạnh phúc, an vui, hiện tại thân tâm thường an lạc và tương lai hướng đến Niết Bàn giải thoát.
Kính thưa các vị thiện tri thức, trong các câu truyện này có gì thiếu sót, xin quý vị từ bi chỉ giáo cho tôi. Tôi thành thật tri ân.
Nhân chuyến viếng thăm Tu viện Kim Sơn, miền bắc California, Hoa Kỳ, trong Mùa An Cư năm 2003. Bắt đầu viết ngày 1-7-2003 và hoàn tất cuối tháng 8-2003

Kính đề,
Thích Tịnh Nghiêm
tại Tu viện Kim Sơn

Tình Thiêng

Thầy chúng tôi qua đời, để lại một số tác phẩm đậm nét tình thiêng – tình người, tình quê hương, tình thầy trò, tình cha mẹ sinh dưỡng con yêu, tình nuôi lớn chí phụng sự và những Đức Phật tương lai.
Với tôi, hai tác phẩm quý nhất và lớn nhất cũng là quan trọng nhất, đó là sư huynh Tịnh Nghiêm và sư đệ Tịnh Diệu. Thầy tôi không còn nữa, nhưng cái tình thiêng liêng của thầy tôi còn thênh thang cả đó, còn hiện hữu đầy ắp trong con người của sư huynh và sư đệ của tôi.
Thầy Tịnh Nghiêm, giới đức thanh tịnh, tâm trí sáng rực, lời nói hiền hòa, nụ cười tươi mát. Thầy Tịnh Diệu, giới đức và trí tuệ cũng vượt xa con ngựa gầy như tôi, lại có đức tính cần mẫn, nhẫn nại, trực tiếp đảm đang mọi sinh hoạt của Tu viện Tổ đình Giác Hải, trước và sau khi thầy chúng tôi vắng bóng. Nhờ tình thương rộng lớn của sư huynh Tịnh Nghiêm và sư đệ Tịnh Diệu mà cá nhân tôi được du phương hoằng hóa, học tập và xây dựng một vài Phật sự khiêm tốn nơi vùng đất Hoa Kỳ.
Thầy Tịnh Nghiêm "quyền huynh thế phụ" không dạy và không quở trách tôi bằng lời, mà bằng cách sống từ hòa, vững chải, khiêm tốn, kính yêu, thương mến đàn em hết mực, như ruột gan của Thầy. Trong hoàn cảnh "gạo châu củi quế", ngày ngày thầy tích cực cuốc đất trồng rau, trồng cây ăn trái, gieo mùa để huynh đệ không vì đói mà thối chí trên đường tu.
Thầy Tịnh Diệu thì như cái cột chính, gắn liền trong căn nhà lớn năm gian, không thể rời chùa, rời chúng tôi, rời bổn đạo và Phật tử nửa bước để chùa thênh thang như đám mây trời. Thầy dành dụm từng miếng vải, từng bát gạo, từng lọ tương, từng hũ muối, từng chiếc mền cũ rách, để làm no, làm ấm cho một đại gia đình đông con trong cảnh nghèo khó. Thầy dấu kỹ từng tờ giấy bạc nhàu nát bị thay đổi nhiều lần bởi quốc biến, để đổi từng thẻ vàng, dành dụm mua gỗ, mua ngói dựng lại ngôi chùa nhỏ mà thầy chúng tôi xây dựng lâu năm đã bị mối mọt đục khoét. Thầy lại phải can tâm chia sớt cho tôi phần tài chánh thiêng liêng như những giọt máu, giúp tôi sống dậy trong những năm tháng đầu du học tại Mỹ.
Tâm sự mấy dòng nầy nơi đầu tác phẩm của sư huynh Tịnh Nghiêm tôi, là để lưu một chút tích xưa có dính líu tới cái tình của người tu bây giờ và về sau. Tình thầy trò, tình huynh đệ và tình người mà được tưới tẩm, chăm bón cẩn thận, đầy đủ rồi, chuyện làm Hiền, làm Thánh, làm Phật không phải là chuyện khó làm. Năm ngoái, 2002, có sư đệ Tịnh Diệu qua Tu viện Kim Sơn thăm sáu tháng, và năm nay, 2003, lại có sư huynh Tịnh Nghiêm sang thăm sáu tháng nữa. Đó là thời gian vui nhất, hạnh phúc nhất và quý báu nhất cho thầy trò, tăng ni, Phật tử chúng tôi tại tu viện Kim Sơn.

TÌNH KHÔNG BẾN

Tình ta gởi tận muôn phương
Cho hoa nở khắp trên đường nhân gian
Mắt em là cửa thiên đàng
Mắt anh sáng dậy thênh thang mấy tầng.
Thuyền qua biển sóng mênh mông
Chở trăng và những giọt không giữa dòng
Bao giờ bến đục chưa trong
Ta còn có mặt bên giòng tử sinh.
Trầm luân dẫu có vô tình
Đâu đây hiện dáng chân hình ngàn xưa
Thu về hạt nắng đong đưa
Ngồi nghe vàng xuống lưa thưa ráng chiều.
Tình không bến rộng bao nhiêu
Ta còn ở đấy bấy nhiêu đợi chờ
Tận cùng cuộc lữ bơ vơ
Nụ hôn từ thuở ban sơ rạng ngời.
Bài thơ Tình Không Bến trên đây, tôi làm để tưởng niệm bổn sư chúng tôi, trọn đời sống vì đạo, vì tình thương không bờ bến trong việc giáo dưỡng đồ chúng. Bài thơ này cũng để thương tặng sư huynh Tịnh Nghiêm và sư đệ Tịnh Diệu, vốn là hai đệ tử tâm đắc của thầy tôi. Hai thầy là hai "tác phẩm tâm linh lớn, sống động, diệu kỳ" mà thầy tôi để lại cho đời, đạo pháp và quê hương.
Bây giờ đến thế hệ chúng tôi, mỗi vị đang đem hết tâm tư săn sóc từ mười, hai mươi, đến năm mươi đệ tử xuất gia và hàng ngàn đệ tử tại gia. Chúng tôi ước mong trong số các học trò của chúng tôi cũng có "vài tác phẩm tâm linh lớn", có chí cả, tiếp nối sự nghiệp của chư Phật và thầy tổ. Chí cả ấy, trước hết là có nghĩa thầy trò, có tình huynh đệ, có sự nỗ lực học tập để dấn thân trong thời đại mới. Chí cả ấy, là sự thể hiện tích cực của việc hành trì giới luật và công phu thiền định trong mỗi giây phút. Chí cả ấy, là sự thao thức trực diện nỗi khổ trầm luân vì thiếu tuệ giác của con người. Chí cả ấy bao hàm trong sự pháp Bồ đề tâm - hướng đến trí tuệ vượt thoát sanh tử, cùng lập nguyện hoằng dương Phật pháp và giáo dưỡng các thế hệ Phật tử trong tương lai.

Thích Tịnh Từ
Viện trưởng Tu viện Kim Sơn

Đôi nét về tác giả:


*

Hòa thượng Thích Tịnh Nghiêm, thế danh là Mạc Văn Khoa, sinh năm 1941. Thọ đại giới, 1964. Tốt nghiệp trung đẳng Phật học viện Huệ Nghiêm, 1967. Tốt nghiệp Cử nhân Phật học, Đại học Vạn Hạnh, 1971. Giám học Phật học viện Giác Nguyên, 1972-1975. Viện trưởng Tu viện Giác Hải, Vạn Ninh, Khánh Hòa. Viện chủ Chùa Vạn Hạnh, Cam Ranh, Khánh Hòa. Chánh đại diện Phật giáo, thị xã Cam Ranh.



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
25/06/2010(Xem: 6592)
Vì không biết sự vận hành nội tại nên hầu hết mọi người trên thế gian không ai nhận ra chính mình và cũng không đồng ý với chính mình. Có người nương vào thể chất như thân thể cao lớn, mạnh khỏe, sắc diện đẹp đẻ, sáng sủa thù thắng …và cho đó là ta. Có vị lấy tri thức như bằng cấp học vị là mình như tiến sĩ, bác sĩ hay kỹ sư v.v. Có vị lấy danh vọng chức tước như tổng thống, thủ tướng, bộ trưởng v.v.làm ta.
25/06/2010(Xem: 15304)
Cô Sue Dixon, một Phật tử người Úc, vướng phải căn bệnh hiểm nghèo, ung thư ngực, trong lúc dường như phải bó tay và hoàn toàn tuyệt vọng thì các Tăng sĩ Tây Tạng đã hướng dẫn phương pháp Thiền quán. Tuyệt vời thay, không lâu sau đó, cô bình phục và khỏe mạnh như xưa. Bài viết dưới đây, cô sẽ kể cho đọc giả biết quá trình loại bỏ bệnh ung thư như thế nào
02/06/2010(Xem: 5222)
Đó là ngày 26 Tháng 10 năm 1967. Tôi đang bay ngay trên bầu trời trung tâm Hà Nội đan chéo đầy hỏa tiễn trong phi vụ thứ 23 của mình, thì bị một hỏa tiễn Nga kích thước cỡ cột điện thoại bắn tung cánh phải chiếc Skyhawk ném bom tôi bay. Phi cơ bổ nhào từ cao độ khoảng 4,500 feet xuống đất, bị đảo ngược lại, gần như chúi thẳng đầu xuống đất. Tôi kéo cần bung dù thoát hiểm. Lực phóng làm tôi bị bất tỉnh vì tốc độ gió đâu khoảng 500 knot (chú thích người dịch: 926 km/giờ). Lúc đó tôi không nhận thức được, nhưng chân phải ngay quanh đầu gối và ba nơi trên cánh tay phải cùng cánh tay trái của tôi đã bị gãy. Tôi tỉnh lại ngay trước khi cánh dù của tôi rơi xuống một hồ nước ngay một góc của Hà Nội, một trong những hồ họ gọi là Hồ Tây. Mũ phi công và mặt nạ dưỡng khí của tôi đã bị thổi bay đâu mất. Tôi chạm mặt nước và bị chìm xuống đáy. Tôi nghĩ rằng hồ sâu khoảng 15 feet, cũng có thể 20. Tôi chòi chân phía dưới để nổi lên mặt nước. Lúc đó tôi không cảm thấy bất kỳ đau đớn nào. Tôi hít một
03/04/2010(Xem: 6574)
Đạo vốn vô ngôn; do ngôn mà hiển đạo, thế nên có mạn lục, có bảo huấn, có bút ngữ, có võ khố. Nay đây, có Hòa thượng Văn Thủ, tự Nhất Ty (1607 – 1648) người nước Nhật Bản, lúc đầu ở ẩn nơi Tây Cương thuộc đất Lạc Tây, về sau Ngài về núi Đan mai danh ẩn tích. Nhưng các hàng xuất gia khắp chốn hải hồ tìm đến bên Ngài kết am tranh tu học số đông không kể xiết. Rốt cuộc, danh Ngài thấu đến cửu trùng, vua thỉnh Ngài trụ trì hai chùa Pháp Thường và Linh Nguyên, ban hiệu là Định Huệ Minh Quang Phật ĐảnhQuốc Sư. Những khi nhàn rỗi, Ngài xem lại gương xưa góp nhặt những di ngôn, vãng hạnh của Phật Tổ và thêm vào đó lời phẩm bình biên tập lại thành bộ Truy Môn Bảo Tạng Tập (trong bản dịch nầy tạm lấy nhan đề là Kho Báu Nhà Thiền). Bộ sách nầy thật là cây đuốc huệ trong đường tăm tối, là thuốc hay cho người bệnh, chẳng những lợi cho người đương thời mà cũng là tiếp độ kẻ hậu côn, thật không có gì hơn vậy. Than ôi! Vào niên hiệu Bảo Vĩnh vì ảnh hưởng thời cuộc nên đâu có khắc bản và muốn lưu hàn
21/02/2010(Xem: 8333)
Tại biên giới của tỉnh Tây Khương sát với Tây Tạng có một bà lão sống cô độc, chồng và đứa con trai duy nhất của bà đã qua đời. Bà sống nhờ một thửa đất nhỏ trồng những hạt ngũ cốc. Vì cuộc đời đã trải qua nhiều gian truân từ nhỏ, bà lão cảm thấy nghiệp chướng trong người rất nặng nên đã cố công tìm hỏi những người chung quanh phương pháp chuộc tội để cầu xin cho tâm hồn được bình yên.