Phần 7

02/05/201311:59(Xem: 14650)
Phần 7
Ánh Đạo Vàng


Phần 7

Võ Đình Cường
Nguồn: Võ Đình Cường


Từng năm qua, từng năm qua, phong sương phủ dầy một lớp trên da người vương giả. Chiếc gậy của kẻ tầm đạo đã mòn một khúc trên đá sỏi đường rừng. Nghe ở đâu có một đấng tu hành đắc đạo là Ngài tìm tới. A-la-già, Ca-lan... đều biết mặt người xuất thế. Nhưng đến đâu, Ngài cũng thấy đạo của họ còn thấp kém, hẹp hòi, không đủ làm cho Ngài thoả mãn.

Sau cùng, không tìm đâu thấy cái đạo Giải thoát như ý Ngài muốn, Ngài nghĩ: “Cái đạo ấy có lẽ tự ta tìm thấy trong ta mà thôi”. Từ đấy Ngài không đi hỏi đạo đâu khác hơn là tự hỏi trí tuệ sáng suốt, tinh anh của Ngài.

Xứ Phật-đà-gia-da có một dải rừng gọi là Ưu-lâu tần-loa, cây cỏ sum suê, đường đi hiểm trở, đức Thích-ca đến đấy, đêm ngày nghiền ngẫm theo đạo vô thượng của Ngài, quên ăn, quên ngủ, lấy tuyết sương làm màn, cỏ hoa làm chiếu.

Mỗi ngày từ đứng bóng, Ngài bắt đầu tham thiền. Ngài ngồi xếp bằng tròn, mình thẳng, yên lặng như một tượng đá. Thỉnh thoảng, một con sóc nhảy lên vế Ngài, vài con chim nhỏ, đến đậu trên miệng bình bát để bên cạnh Ngài, chúi mỏ xuống mổ những hạt cơm Ngài để dành cho chúng. Ngài ngồi như thế, không quan tâm đến chung quanh, điềm nhiên, mặc cho gió nực luồn lách trong lá, những nhành cây rên răng rắc dưới ngọn nắng thiêu.

Rồi mặt trời dần lặn, đỏ rực một phía rừng; rồi đêm xuống, sao chong đèn bạc cho giấc ngủ được êm lành. Ngài vẫn ngồi yên, phân dần những mối manh rối beng của tư tưởng, giữa những hình ma bóng chết, giữa những vùng u tịch của đêm rừng mà thỉnh thoảng tiếng gầm thét của bọn ác thú, đang cấu xé nhau trong bóng tối làm tăng thêm hãi hùng ghê rợn.

Đến quá nửa đêm, Ngài mới đặt lưng xuống ngủ để rồi lại trỗi dậy trước ánh bình minh. Ngài đến ngồi bên sườn núi, nhìn xuống cảnh đời xa xa đang ngủ dưới chân Ngài, duỗi mình trên những cánh đồng bao la còn đắm chìm trong bóng tối. Thế rồi trời sáng dần... Từ chân mây xa đưa lại vài luồng gió mai phẩy nhẹ, như hơi thở của mặt trời sắp lên. Bóng sao mai mờ dần trong ánh sáng, vạn vật trỗi dậy với mặt trời hồng. Sắc màu tươi thắm lại. Tiếng chim vui hoà lẫn trong cành. Ngài chứng kiến mỗi buổi bình minh sự trở về của ánh sáng, và liên tưởng đến một buổi mai kia, khi ánh sáng của đạo Ngài cùng bừng chiếu với ánh mặt trời, thì ôi! Cuộc đời sẽ vui thêm biết mấy!

Tắm rửa xong, Ngài lần theo đường dê đi xuống núi khất thực. Bình bát mang bên mình, Ngài dừng bước trước mọi nhà với vẻ uy nghi của một người sắp sáng đạo. Các bà mẹ vội bảo con đem sữa bánh ra dâng. Ngài nhận lãnh lòng sốt sắng của mọi người với một nụ cười hiền trên môi, hay một lời cảm ơn rất êm dịu. Những cô thiếu nữ nhìn Ngài với những cặp mắt đen nháy, ngạc nhiên khi thấy người trai trong mộng hiển hiện ở hình Ngài. Lũ trẻ chạy nâng áo Ngài lên, đặt môi xuống đấy, tỏ hết lòng kính mến và sùng bái, như đối với một vị thần hộ mệnh.

Ngài sống từng năm như thế. Nhưng nhiều lúc say mê trong việc nhập định tham thiền, Ngài ngồi luôn từ trưa này cho đến trưa kia; khi sực nhớ đến bình bát thì chỉ thấy một bình không! Giờ khất thực đã qua, Ngài phải đi kiếm trái cây ăn qua loa cho đỡ đói. Lòng khao khát tìm cho mau ra ánh sáng, sự chuyện chú của tinh thần, những đêm quên ngủ, những ngày quên ăn, và nắng lửa, và gió băng, và bao nhiêu nhọc nhằn khác làm cho thân hình Ngài mỗi ngày mỗi tiều tuỵ sức lực mỗi ngày mỗi mòn yếu, những tướng tốt của Ngài lu mờ dần... Rồi một buổi trưa, Ngài nằm lịm trên mặt đất, mê man không còn biết gì nữa.

Một người chăn cừu đi qua, thấy Ngài nằm bất tỉnh trên vũng nắng vàng cháy, liền bẻ một nhánh cây che cho Ngài, rồi lấy sữa đựng trong bao da đổ vào miệng Ngài. Ngài tỉnh dậy, sắc mặt hồng hào, tươi thắm như xưa, những tướng tốt hiện rõ như trước. Người chăn cừu tưởng gặp thần núi, sụp xuống lạy, rồi đứng lùi lại rất xa. Ngài bảo đến gần, rót cho Ngài một chén sữa. Nhưng người đó vẫn đứng xa thưa lại:

– Kính lạy Ngài, tôi không thể đến gần Ngài vì tôi là một đứa Ba-li-a; sự gần gũi của tôi sẽ làm Ngài mất tinh khiết.

Đức Thích-ca dịu dàng bảo:

Tình thương và sự nhu cầu là những dây liên hiệp để đoàn kết mọi người. Không có giai cấp trong dòng máu cùng đỏ như nhau, không có giai cấp trong giọt nước mắt cùng mặn. Mỗi người khi mới sanh ra không phải có sẵn dấu Ti-ca trên trán , không đeo sẵn dây chuyền trong cổ (những người thuộc dòng quý phái Ấn Độ đều có dấu ấn Ti-ca giữa hai chân mày và mang dây chuyền ở cổ). Trước toà án nhân quả, mỗi người đều phải trả đúng giá những nghiệp mình làm. Người hãy cho ta uống đi, không can gì mà sợ.

Người chăn cừu sung sướng đến bên Ngài, rót sữa vào chén, dâng Ngài uống.

Một buổi mai, một đoàn ca vũ đến làm lễ ở một đền nào, đi ngang qua rừng Ngài tu. Họ vui vẻ đổ xuống đồi, chạy loanh quanh theo con đường mòn đỏ sỏi. Những khăn quàng dài và rộng bay lui ra sau, chập chờn như những cánh bướm. Những chuỗi lục đạc đồng quấn trong chân thon, những chiếc vòng bạc đeo trong tay hồng, cùng nhau rung lên những tiếng đồng và tiếng bạc. Họ hát như sau:

“Lên cho chúng tôi một dây đàn đừng quá cao cũng đừng quá thấp, chúng tôi sẽ nhảy theo tiếng đàn và tim mọi người sẽ nhảy theo chân chúng tôi.

Dây đàn quá căng sẽ đứt và nhạc sẽ câm.
Dây đàn quá chùng nhạc sẽ không lên tiếng.
Lên cho chúng tôi một dây đàn đừng quá cao cũng đừng quá thấp!”

Tiếng hát vô tư của mấy nàng ca nhi không ngờ đã lọt vào tai Người tầm đạo. Ngài ngước đầu lên nhìn. Bóng dáng hoa hoè của họ thấp thoáng hiện giữa những khoảng cây thưa. Tiếng hát của họ mỗi lúc mỗi tan dần trong gió. Ngài mỉm cười, tự nhủ: “Không ngờ các người ấy cũng có được nhiều ý tưởng hay. Ừ, có lẽ trong việc tìm điệu nhạc cứu thế, ta đã lên quá cao dây đàn, không khéo nó sẽ đứt mất trong khi ta đang cần đến nó. Ta phải bồi bổ lại thân thể mới được.”

Ở bên bờ sông Ni-liên-thuyền gần khóm rừng Ngài tu có một làng lấy tên người điền chủ giàu nhất làng: Xờ-na-ni (Senani). Chàng ở đấy với vợ, nàng Tu-xà-đa (Soujata), hiền lành như bồ câu và đức hạnh như thánh nữ. Nàng sống những ngày êm ả bên cạnh chồng, nuôi một ước vọng tha thiết : có con trai.

Nàng đã nhiều lần khấn vái nữ thần Lúc-mích (Nữ thần thường phò hộ cho dân gian được giàu có, phồn vinh) và những đêm trăng, nàng thường đội một khay hoa quả đến bên tượng Lanh-gam (tượng đá hình tròn và dài, tượng trưng cho sự sanh sản) đi quanh chín vòng để cầu mong sanh được một đứa bé. Nàng nguyện sẽ đem dâng rất nhiều lễ vật, nếu điều mong ước của nàng được thực hiện. Nàng đã được như nguyện. Sau mấy tháng cầu xin, nàng thụ thai và sinh được một trai. Con nàng bây giờ đã được ba tuổi. Một hôm, nàng bế con, đội một khay hoa quả và một bình nê-hồ vào rừng tạ thần núi.

Nàng sai con thị tỳ Ra-đa (Radha) vào trước trong rừng, sửa soạn một nơi để làm lễ. Nhưng một chốc, Ra-đa chạy ra, hớn hở báo với nàng:

– Cô ơi! Thần núi hiện ra ở dưới gốc cây kia; Người đang ngồi xếp bằng, hai tay để trên hai vế, mặt phương phi lắm cô ạ. Thật phúc đức cho chúng ta lắm, vì mấy khi mà được Ngài hiện ra như thế.

Nàng Tu-xà-đa đi đến, kính cẩn và run rẩy sụp xuống lạy, úp mặt sát đất, khấn:

– Lạy Ngài cao cả đã ban phước cho chúng con, xin Ngài hãy nhận lễ mọn này tự tay con làm lấy với tất cả lòng thành kính và biết ơn của con.

Lạy xong, nàng đến đổ trên tay đứe Thích-ca một thứ nước hoa đựng trong bình thuỷ tinh và để bình bát đựng nê-hồ trước mặt Ngài. Đức Thích-ca lặng lẽ ngồi thọ trai, trong lúc người thiếu phụ, lòng tràn sung sướng, đứng hầu bên cạnh. Thọ trai xong, Ngài nghe trong mình tỉnh táo lạ thường. Sức lực trở lại trong Ngài; nguồn sống chạy rần rần trong huyết quản. Ngài cảm nghe như những đêm quên ngủ, những ngày quên ăn chỉ là một giấc mê mà bát nê-hồ đã đuổi tan trong chốc lát. Trí não Ngài trở nên sáng suốt như gương, nhẹ nhàng như có cánh, mạnh mẽ như Hy-mã-lạp-sơn.

Nàng Tu-xà-đa nâng đứa bé trên tay, nhỏ nhẹ thưa:

– Thưa Ngài, chẳng hay cái lễ mọn của con có làm vui lòng Ngài chăng?

Đức Thích-ca không trả lời thẳng câu của thiếu phụ, hỏi lại:

– Người đã cúng dường cho ta thứ gì mà ngon lành đến thế?

Người thiếu phụ, vẻ hân hoan lộ ra trong đôi mắt sáng, quỳ xuống bên Ngài kể lể:

– Hỡi Lượng cao cả đã ban ân cho con! Con lấy sữa của 25 con bò cái nuôi 12 con bò trắng, lấy sữa của 12 con bò này nuôi 6 con bò mập mạp nhất trong chuồng. Con lấy sữa những con bò này đổ vào bình bạc nấu với thứ gạo tốt nhất mà con đã chọn lựa rất công phu trong những thứ gạo tốt. Con lại cho thêm vào bình bạc những thứ lá thơm, hoa quý tự tay con hái lấy trong vườn. Ôi! Nhưng bao nhiêu lòng thành kính, bao nhiêu công phu của con, con biết không làm sao sánh được trong muôn một lượng cả của Ngài. Đây đứa bé, hòn ngọc, lẽ sống mà Ngài đã ban cho gia đình con!

Nàng duỗi hai cánh tay, đưa đứa bé ra phía trước. Ngài vén mảnh lưới hồng che trên mặt đứa bé, để bàn tay cứu thế trên trán nó và nói với người mẹ:

– Ta mong cho hạnh phúc của người và gia đình người được dài lâu. Ta mong cho gánh đời của con người sau này sẽ không đè nặng trên vai nó. Ta không phải là một vị thần nào cả. Ta chỉ là một người như mọi người khác. Xưa kia ta là một Thái tử. Bây giờ ta chỉ là một kẻ không nhà, ròng rã trong 6 năm trời đi tìm ánh đạo để soi sáng cho chúng sanh đang sống trong bóng tối mà họ không hay. Ta tin sẽ tìm ra ánh sáng ấy, vì nhiều lúc ta thấy nó thoáng hiện ra trước mắt ta. Nhưng ta không đón giữ nó lại được, có lẽ vì sức lực ta đã mòn mỏi. Hôm nay ta nhờ bát cháo sữa của người mà được mạnh khoẻ như xưa, công ơn ấy ta biết lấy gì đền đáp lại cho người?

Nàng Tu-xà-đa thoái thác:

– Ôi! Lòng con là một đoá hoa lan nhỏ bé, chỉ vài giọt sương mai là đã tươi thắm rồi. Con không mong ước tham cầu gì nữa. Đời con êm trôi giữa ánh sáng dịu dàng của gia đình: chồng con, mạnh mẽ như một cây đại thọ, con con, nụ cười tươi sáng như hoa xuân, con không còn ước mong gì khác. Con sống không đòi hỏi cũng không từ chối: thản nhiên nhận lấy mọi việc không may xảy đến cho con, không oán trách cũng không tránh trút. Nhưng bao giờ con cũng tin chắc rằng những điều xảy đến ngày mai sẽ tốt đẹp hơn ngày hôm nay, vì như con thường thấy, những việc ác gây hoạ, cũng như những việc thiện gây phúc. Một hạt lúa giống tốt sẽ mang một chuỗi hạt vàng. Luật sống của con chỉ tóm tắt trong hai điều này: bớt dục vọng và thêm tình thương.

Đức Thích-ca mỉm cười phán bảo:

– Người dạy những bài học rất đích đáng cho những bậc thầy của người. Sự hiểu biết của người không cần kinh sách. Người đi trúng đường không cần ai chỉ bảo như con bồ câu bay trúng hướng một cách tự nhiên. Nhưng trong nhân loại, đếm được mấy người hiểu và sống như thế? Và biết bao người cần phải có kẻ chỉ dẫn! Chính vì thế mà ta đi tìm đạo. Thôi người hãy về đi. Ta chúc người làm tròn phận sự làm mẹ và làm vợ. Còn ta, ta sẽ làm tròn phận sự của kẻ đi tìm phương giải thoát cho nhân loại.

Nàng Tu-xà-đa cáo từ Ngài, rồi nhẹ nhàng đi ra khỏi rừng.

Đức Thích-ca đứng dậy, đến tắm ở bên bờ sông Ni-liên-thuyền. Tắm xong, Ngài nghe trong mình khoan khoái lạ thường. Ngài bước từng bước chắc chắn đến phía cây bồ-đề, cây bồ-đề cao to nhất trong những cây rừng ở thế giới, có từng lớp mái lá xanh, từng nhành duỗi rộng, có những rễ phụ chôn xuống đất như những hàng cột lớn.

Cây bồ-đề mạnh mẽ và vững chắc mà thời gian không thể tàn phá, gió mưa chỉ làm tốt tươi thêm.

Đức Thích-ca đến đấy, và mọi vật cảm thấy trước một điềm lành, hội nhau mừng rỡ. Gió đưa ngào ngạt từng loạt hương sen mọc bên bờ sông Ni-liên-thuyền. Từng đàn bướm vàng bay; từng hồi, chim chuyền tin mừng cho nhau qua kẻ lá. Và Đấng-sắp-giải-thoát nghe vang lừng một điệu hát ở mấy từng không:

“Hỡi người con rất anh linh của vũ trụ, đấng vương giả, mà xa hoa không thể ràng buộc, muôn ngàn dục vọng không thể làm mù quáng! Ngài đã đem ý chí mạnh mẽ như thác đổ, vững chắc như núi đồi, để thắng vượt những nỗi ràng rịt của xác thịt và nhất là tình cảm. Ngài đã đem trí tuệ sáng như mặt trời để tìm con đường giải thoát. Ngài sắp đến đích!

Nhanh lên! Còn phải thắng trong một cuộc chiến đấu cuối cùng nữa, và công đức của Ngài sẽ trọn vẹn! Nhanh lên! Bóng tối từ muôn vạn đời của trời đất đang đợi Ngài rọi ánh sáng vào đấy!”

Đức Thích-ca đến ngồi kiết-già cạnh gốc bồ-đề tự bảo: “Dù máu ta có khô, xương ta có mục, ta cũng không rời khỏi chỗ này, nếu ta chưa tìm ra được Đạo.”

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
02/09/2010(Xem: 5499)
Nghĩa háo hức theo mẹ về Việt Nam thăm viếng quê hương. Sau mấy ngày vui nhộn làm sống lại những kỹ niệm ấu thơ tại Thủ Đức với bà con họ nội xa gần, chàng theo mẹ về quê ngoại, tạm trú tại nhà cậu Út ở thành phố Phan Rang, Ninh Thuận. Vì thuở nhỏ chàng không có cơ hội liên lạc với họ ngoại, nên dù được cậu tiếp đón rình rang, nhưng chàng muốn thân thiết với hai đứa em cô cậu thật khó.
01/09/2010(Xem: 8207)
Dù dòng thời gian đã xoá nhòa những hình ảnh quý gíá xa xưa, dù dấu chân của các Ngài đã rêu phong phủ kín. Nhưng những dấu chân ấy đã đi vào lịch sử nhân gian, dù tiếng nói các Ngài đã hòa vào không gian tĩnh lặng. Nhưng đâu đây vẫn còn vang vọng pháp âm của các Ngài, làm chấn động tâm tư huyết mạch của bao người con Phật. Trong quyển “Những Vị Phật ở Miền Tây Nam Việt Nam” này. Chúng tôi sưu tầm, nghiên cứu và ghi chép trung thực theo lời thuật của các vị Trưởng Lão uy tín; hay các vị trí thức trung hậu; hoặc trích trong các tài liệu giá tri được mọi người tin tưởng.
28/08/2010(Xem: 81993)
Quyển 6 • Buổi Pháp Thoại Trên Đỉnh Cao Linh Thứu (Gijjhakūṭa) • Ruộng Phước • Tuệ Phân Tích Của Tôn Giả Sāriputta • MÙA AN CƯ THỨ MƯỜI CHÍN (Năm 569 trước TL)- Mỹ Nhân Giá Mấy Xu? • Chuyện Cô Sirimā • Móc Cho Con Mắt Đẹp • Ngạ Quỷ Mình Trăn • Cùng Một Nguyên Lý • “Hớt” Phước Của Người Nghèo! • Ghi chú đặc biệt về hạ thứ 19: • MÙA AN CƯ THỨ HAI MƯƠI (Năm 568 trước TL)-Phước Cho Quả Hiện Tại • Bảy Thánh Sản • Chuyện Kể Về Cõi Trời • Hóa Độ Gia Đình Thợ Săn • Nhân Duyên Quá Khứ
28/08/2010(Xem: 5930)
Tết Mậu Thân 1968, một cái Tết mà Việt Cộng tràn về quá bất ngờ, tôi không thể tin rằng đó là sự thật. Mồng Một Tết vẫn ăn Tết sắm sửa bình thường. Nhà tôi ở lầu 2 trường Đồng Khánh vì tôi làm Giám Học tại trường này, bên hông là Tòa Hành Chánh và Lao xá Thừa Thiên - nơi giam giữ nhiều tù binh Việt Cộng. Cả ngày vẫn tấp nập bà con tới lui thắm viếng, chiều lại còn có con của các nhân viên trong trường đến thăm chuyện trò hàn huyên vui như ngày hội. Tối đến cả nhà còn bàn nhau nên đi ngủ sớm để ngày mai xuống phi trường đón gia đình người anh chồng về Huế ăn Tết.
28/08/2010(Xem: 78636)
Sau khi sinh hoạt của hội chúng đã tạm thời đi vào quy củ, nền nếp; đức Phật thấy thời tiết có nắng nhẹ, trời không lạnh lắm, thuận lợi cho việc du hành nên quyết định rời Gayāsīsa, đến kinh đô Rājagaha, đường xa chừng sáu do-tuần. Thấy đoàn sa-môn quá đông, khó khăn cho việc khất thực, đức Phật gợi ý với ba anh em Kassapa cho chúng đệ tử phân thành từng nhóm,
19/08/2010(Xem: 13467)
Tại Keelung, Đài Loan có một cửa hàng với cái tên là “Ngộ Duyên Hào”. Ông chủ Lâm vốn là một người rất tử tế, xung quanh khu vực ông sống có rất nhiều những cư dân đánh cá hay kiếm sống quanh đó.
04/08/2010(Xem: 6273)
Tác-giả Thiện Xuân Malkhanova là một con người thật đặc-biệt. Còn nhớ năm 2000 khi chị Trương Anh Thụy và tôi đi sang họp Đại-hội Văn-bút Thế-giới ở Mạc-tư-khoa, chúng tôi đã để ý đến chuyện đi đường, gặp con sâu róm ở dưới đất, chị đã ân cần lấy một cái lá nâng nó lên rồi đặt nó lên một cành cây gần đó. Một con người từ-bi đến với cả cỏ cây, đất đá! Chị bảo đó là điều chị đã học được từ đạo Phật.
04/08/2010(Xem: 5263)
Không biết từ lúc nào, mà ngôi tịnh thất vô danh thấp thoáng dưới tàn cây huỳnh đàn rậm lá trên đỉnh núi Ông cheo leo mây mù đong đưa bao phủ quanh năm, đã được dân quê dưới chân núi ưu ái gọi là am Mây Ngàn thay thế cho cái tên “chòi đạo Ân” mà họ hùa nhau ám chỉ túp lều lá của sư Từ Ân ngày trước. Thuở mới đăng sơn cắm dùi khẩn đất làm chốn ẩn tu, sư lủi thủi một mình chẳng có móng đệ tử lăng xăng đón đưa phục dịch, sư tự vác cuốc, quẩy gánh... lặng lẽ lên tận đỉnh, khai phá được một khoảnh đất nhỏ làm rẫy. Sư bắt đầu trồng các loại rau đậu, khoai, bắp, cà dưa... để sớm gặt hái hoa lợi,
20/07/2010(Xem: 15651)
Đạo Phật là đạo của từ bi và trí tuệ, tất cả mọi hành động bằng thân, lời và ý đều xuất phát từ hai tiêu chuẩn đó nhằm đem lại lợi lạc cho mình và tha nhân. Đây là những đức tính rất cơ bản để phát triển về Giới-Định-Tuệ mà một người muốn thăng tiến về mặt tâm linh thì cần phải quan tâm và thực hiện một cách triệt để.
17/07/2010(Xem: 6712)
Đêm qua con nghe bài pháp “Vượt qua oan gia trái chủ”của thầy Thích Tâm Đại, cảm thấy bàng hoàng, sửng sốt, mồ hôi ướt lạnh. Hóa ra, trong quá khứ, con đã tạo vô lượng tội, gieo vô lượng oán thù, oan gia trái chủ.