Ẩn Sĩ Khổ Hạnh - 5. Học theo loài rắn

26/04/201311:06(Xem: 14071)
Ẩn Sĩ Khổ Hạnh - 5. Học theo loài rắn
Ẩn Sĩ Khổ Hạnh


5. Học Theo Loài Rắn

Tâm Minh Ngô Tầng Giao
Nguồn: Tâm Minh Ngô Tầng Giao


Ba La Nại thuở xa xưa
Nhà vua có một tế sư giúp mình
Đóng vai cố vấn triều đình
Giỏi giang tột bực, thông minh vô cùng
Gia đình danh giá trong vùng
Tính ông rộng lượng, hay thương mọi người
Thường xuyên bố thí giúp đời
Cho nên ông được khắp nơi nể vì
“Năm điều giới cấm” uy nghi
Ông theo tu tập rất chi chuyên cần
“Sát sinh, trộm cắp, tà dâm
Say sưa, dối trá” ông luôn giữ gìn
Không dám phạm, chẳng hề quên
Đời ông là bậc thánh hiền nêu gương
Nhà vua do đó tán dương
Ông là người tốt trăm đường đáng khen.

*

Lòng tò mò chợt nổi lên
Tế sư bỗng muốn biết thêm một điều:
“Nhà vua kính trọng mình nhiều
Là vì vua đã dựa theo tài mình
Hay mình dòng dõi nổi danh
Hay mình tài sản gia đình giàu sang
Hay do giới đức vẻ vang
Khi mình theo ánh đạo vàng tu thân?”
Suy tư, thắc mắc, phân vân
Nên ông muốn thử một lần xem sao.
Rời hoàng cung ngày hôm sau
Tế sư đâu chịu lẽ nào về ngay
Cố tình ông ghé vào đây
Là nơi tiền bạc hàng ngày đúc ra
Ông bèn làm bộ gian tà
Thò tay lấy trộm thật là lặng yên
Một đồng vàng, cất giấu liền
Nhân viên xưởng đúc lặng im nể vì
Không hề dám nói năng chi
Mọi người kính trọng ông thì đã lâu.
Thế rồi lại tới hôm sau
Diễn ra đúng vậy thấy sao lạ lùng
Lần này ông lấy hai đồng
Nhân viên xưởng đúc cũng không than phiền.
Hôm sau nữa lại lấy tiền
Lần này lấy một nắm liền đầy tay
Ba lần gian xảo kiểu này
Chẳng coi luật pháp tại đây ra gì
Nhân viên họ hết nể vì
Bắt ông tại chỗ, miệng thì la lên:
“Đây là kẻ ba lần liền
Gian manh trộm cắp bạc tiền của vua.”
Và rồi cả đám reo hò:
“Kẻ này đạo đức giả đò mà thôi
Làm như lành tốt hơn người.”
Họ bèn đánh, trói ông rồi giải đi
Không còn kính trọng chút chi
Giải vào vua xử mọi bề công minh.
Trên đường đi tới triều đình
Thấy nhiều người đứng vây quanh chốn này
Người nuôi rắn đứng trong đây
Đang lo biểu diễn trò hay kiếm tiền
Những trò nguy hiểm vô biên
Để cho rắn độc quấn trên cổ mình
Hổ mang ngóc dậy vờn quanh
Lắc lư theo những âm thanh của kèn
Người nuôi rắn muốn khách xem
Tỏ lòng thán phục và khen can trường.
Tế sư khuyên họ: “Coi chừng!
Chớ nên nắm cổ, cũng đừng nắm đuôi
Không nên quấn rắn quanh người
Hổ mang cực độc, cắn thời chết ngay.”
Người nuôi rắn mắng: “Ngu thay!
Ông nào có biết rắn đây lành hiền
Từ lâu huấn luyện đã quen
Nào đâu có xấu, có hèn như ông
Ông là kẻ trộm trong cung
Vô cùng xảo trá, vô cùng gian manh
Chi nên bị trói thân mình
Còn như rắn nọ tốt lành từ lâu
Đâu cần trói buộc lại đâu.”
Tế sư nghe nói cúi đầu nghĩ suy:
“Ngay như rắn độc hại kia
Nếu không cắn bậy còn chi quý bằng
Được coi tốt đẹp hiền lương
Mới hay giới đức người thường cầu mong
Coi như tối thượng vô song
Người ta quý trọng nhất trong cõi trần.”

*

Khi mọi người giải tội nhân
Tới vua phán xét xử phân tội tình
Mọi người thuật chuyện ngọn ngành
Tế sư trộm cắp gian manh tiền vàng
Vua nghe xong thoạt ngỡ ngàng
Rồi truyền lệnh phạt kẻ gian tức thì
Phạt theo luật để thị uy.
Tế sư lúc đó còn gì giấu đâu
Ông bèn lên tiếng trình tâu
Ý mình muốn thử từ đầu tới nay
Để xem giới đức tại đây
Có còn được trọng vọng hay suy đồi:
“Bây giờ mọi chuyện rõ rồi
Chỉ vì giả bộ trộm nơi cung vàng
Mà tôi không được nể nang
Bị coi là kẻ thuộc hàng xấu xa
Mới hay giới đức suy ra
Quả là tuyệt diệu, quả là tối cao.
Hổ mang rắn độc biết bao
Khi không gây hại ai nào trách chê
Được người yêu mến mọi bề
Quả là giới đức còn chi quý bằng.”
Vua nghe tâu thật rõ ràng
Bèn truyền tha tội trộm vàng của vua
Truyền tha cho vị tế sư,
Nhưng ông sau đó chẳng ưa quyền hành
Thỉnh cầu vua cho phép mình
Giã từ chức vụ triều đình từ lâu
Trở thành tu sĩ rừng sâu
Nhà vua từ chối có đâu thuận lòng
Tế sư cứ mãi cầu mong
Nhà vua thấy vậy cuối cùng chuẩn y.
Tế sư hoan hỉ ra đi
Giã từ cõi tục, tìm về nẻo thơm
Lánh vào Hy Mã Lạp Sơn
Chuyên tâm thiền định bình an tuyệt vời
Đến khi mãn kiếp lìa đời
Tái sinh thiên giới, cõi trời tối cao.
(phỏng dịch theo bản văn xuôi
A LESSON FROM A SNAKE
của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)
(còn tiếp)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16/10/2010(Xem: 5847)
Trong đời, tôi đã thấy mặt trăng lần nào chưa? Nhìn trăng, tôi nhìn cả đời. Nhưng thấy trăng, tôi không dám nói chắc. Khi tôi nhìn trăng trước mắt, tôi nghĩ đến trăng nửa khuya loáng thoáng trên tàu lá chuối sau vườn cũ. Tôi nghĩ đến đèn trung thu lúc nhỏ. Tôi nghĩ đến cái chõng tre giữa sân trên đó, ngày xưa, tôi nằm nhìn mây bay. Nhìn trăng, tôi không thấy trăng. Chỉ thấy lá chuối, chõng tre. Thấy cả tôi với trẻ con hàng xóm nô đùa. Có lần tôi trốn tìm với chúng nó, bị lộ, tôi nhảy bừa vào bụi tre, bất ngờ có đứa con gái đã ngồi sẵn trong đó. Tôi sợ hoảng, toan vọt ra thì nó kéo tay tôi lại, ấn vai tôi xuống, cười đồng lõa. Trong loáng thoáng của cây lá, tôi thấy hai cái răng cửa của nó sáng ngời ánh trăng. Bây giờ, nhìn trăng non, tôi thấy cái miệng và hai cái răng. Tựa như hai cái răng của nó phát ánh sáng và in hình miệng nó lên bầu trời.
16/10/2010(Xem: 5793)
Ngày xưa, một nhà quan lang họ Cao có hai người con trai hơn nhau một tuổi và giống nhau như in, đến nỗi người ngoài không phân biệt được ai là anh, ai là em
16/10/2010(Xem: 4923)
Ngày xưa, vào hồi Tây Sơn khởi nghĩa, có một chàng trai người vùng Đồng Nai, có tài cả văn lẫn võ, đã vung gươm hưởng ứng sự bất bình của thiên hạ.
16/10/2010(Xem: 4708)
Ngày xửa... Ngày xưa... Có một cô bé rất giàu lòng yêu thương. Cô yêu bố mẹ mình, chị mình đã đành, cô còn yêu cả bà con quanh xóm...
15/10/2010(Xem: 4719)
Một danh tướng về già muốn tặng thanh kiếm báu của mình cho một tướng quân ở xa. Ông giao trọng trách đó cho một gia nhân, cũng là một tay kiếm xuất chúng. Cẩn thận như vậy, ông vẫn không yên lòng, nghĩ rằng kiếm sĩ này chưa chắc đã đủ chín chắn để giữ kiếm không bị cướp dọc đường. Thanh kiếm không những quý về chất thép mà còn quý vì chuôi kiếm có nạm vàng và ngọc vua ban.
13/10/2010(Xem: 4973)
Có hai vợ chồng một ông già tên là Dã Tràng. Trong vườn họ có một hang rắn. Thường ngày làm cỏ gần đấy, ông già vẫn thấy có một cặp vợ chồng rắn...
13/10/2010(Xem: 6841)
Vào Thứ Sáu, ngày 8 tháng 10 năm 2010, Ủy Ban Giải Nobel Hòa Bình Na Uy đã công bố giải Nobel Hòa Bình năm 2010 được trao cho Lưu Hiểu Ba. Lưu Hiểu Ba, sinh năm 1955 tại thủ phủ Trường Xuân của tỉnh Cát Lâm ở đông bắc Trung Quốc, là nhà tranh đấu bất bạo động cho tự do, dân chủ và nhân quyền tại Trung Quốc. Ông đã từng tham gia phong trào sinh viên đấu tranh trong biến cố Thiên An Môn năm 1989 và sau đó liên tục bị sách nhiễu, quản chế tại gia và tù tội. Ngày 8 tháng 12 năm 2008, ông đã bị bắt vì cùng một số nhà tranh đấu dân chủ và nhân quyền Trung Quốc công bố Hiến Chương 2008 đòi xóa bỏ chế độ cai trị độc đảng để tiến tới một xã hội dân chủ cho Trung Quốc. Hiến Chương 2008 cho đến nay đã có hơn 8,500 người tham gia ký tên. Vì Hiến Chương 2008, Lưu Hiểu Ba đã bị chính quyền cộng sản Trung Quốc kết án 11 năm tù. Hiện ông vẫn còn ngồi tù ở Liễu Ninh, Trung Quốc.
11/10/2010(Xem: 5244)
Không ngờ tôi lại có được duyên lành đi chung với Thầy Trụ Trì Chùa Tâm Giác một đoạn đường khá xa. Tôi vẫn thường hay đến chùa, vãn hay gặp Thầy nhưng lúc nào Thầy cũng „Phật sự đa đoan“ nên tôi có rất ít thì giờ gần gũi và tiếp xúc với Thầy nhiều. Chuyến đi này thật hữu ích cho tôi vô cùng, tôi đã nghe và thấm nhuần được rất nhiều điều về Giáo lý Phật Đà - một niềm tin mà tôi luôn luôn tôn thờ và say mê khi vừa mới lớn cho đến tận bây giờ và cũng nhờ Thầy mà đoạn đường đi về 260 km không còn xa vời vợi nữa.
07/10/2010(Xem: 5417)
Hiện nay, truyền thuyết Lương Sơn Bá-Chúc Anh Đài được lưu truyền dưới nhiều hình thức nghệ thuật khác như kể chuyện, ca dao, truyền kỳ, kịch, khúc nghệ, âm nhạc, v.v