Lời vào sách

02/04/201321:04(Xem: 12975)
Lời vào sách
Vụ Án Một Người Tu

Lời Vào Sách

Hòa Thượng Thích Như Điển
Nguồn: Hòa Thượng Thích Như Điển

Tôi đặt bút bắt đầu viết "Lời Vào Sách" nầy đúng vào lúc 7 giờ sáng ngày 21 tháng 6 năm 1995 sau khi tụng một thời kinh Lăng Nghiêm và tọa thiền tại Chánh điện.

Trời hôm nay nóng quá, quạt máy đã được bật lên và tôi bắt đầu châm trà, uống theo kiểu người ta, sau 3 tuần thấm giọng, bắt đầu viết.

Ngoại cảnh rất quan trọng trong cuộc sống; nên ngày xưa những bậc thâm nho, đạo cốt thường hay tìm đến chốn non bồng nước nhược để vui với cỏ cây, làm bạn với thiên nhiên, để cho tâm hồn của mình được thư thả là vậy đó.

Bây giờ, tôi đang ở tại xứ văn minh vật chất, đối diện với ngựa xe, với cơ giới, muốn tìm một cuộc sống an tịnh, thật là khó. Bởi vậy mỗi năm tôi cố dành hết mọi thời giờ để làm sao có được một mùa an cư kiết hạ. Trong 3 tháng đó, tôi trở lại vớ chính con người của mình và cũng chính trong 3 tháng đó có nhiều thì giờ để tu học và viết sách nhiều hơn.

Năm 1994 vừa qua, vào mùa thu, tôi đã có dịp viếng Montréal và có hứa với quý Phật Tử tại đây rằng, sang năm 1995 tôi sẽ đến đây để an cư trong vòng một tháng. Cũng chính vì lời hứa ấy mà tôi đã có mặt tại đây và quyển sách nầy được viết ra trong hoàn cảnh ấy.

Trong những năm trước đây ở Đức, tôi bắt đầu viết sau những giờ công phu sáng trong mùa an cư và ngay sau ngày bắt đầu vào hạ rồi, tôi mới bắt đầu viết; nhưng hy vọng ở đây có nhiều thì giờ, nên sẽ viết được nhiều hơn và sau một tháng ở Canada, trước khi về lại Đức, tôi sẽ có một quyển sách bản thảo cầm tay mang về. Đây là tác phẩm thứ 19 của mình. Nếu năm nay Hạnh Tấn dịch xong tác phẩm "Chùa Viên Giác" của tôi sang tiếng Đức, thế là tác phẩm thứ 20 đã xuất hiện.

Cuộc sống của con người ngắn ngủi quá và khổ đau trần lụy lại nhiều; nên phải cố gắng làm sao dùng thật nhiều thời giờ vào việc tu học cũng như hãy mang tình thương thật nhiều đến với tất cả mọi người, thì cuộc sống mới có giá trị.

Mới năm rồi, khi đến đây, tôi còn đi thăm hai ĐạoHữu kỳ cựu của Chùa Quan Âm, mà nay khi đến lại, sau gần một năm, họ đã không còn nữa. Đó là Cụ Nguyễn Bỉnh Tuyên, Cựu Hội Trưởng sáng lập Hội Phật Giáo Quan Âm và Đạo Hữu Trần Văn Đức. Hôm đám tang của Cụ Cựu Hội Trưởng; Thượng Tọa Thích Minh Tâm và tôi vì xa xôi không đến đươcﻍ nên đã đi một câu đối để tặng Cụ lúc vĩnh biệt ngàn thu.

Đối rằng:
"Sanh mà chi, tử mà chi, tử sinh đều rõ lối".
"Đời là thế, Đạo là vậy, Đạo Đời cũng thế thôi."

Đúng là vô thường thật. Ở đời đâu có gì tồn tại mãi đâu, con người, sự vật, còn đó rồi mất đó, trẻ đó rồi già đó. Sung sướng đó rồ khổ đau cũng đó. Thánh thiện đó rồi tục lụy cũng đó ai biết được, ai hiểu được và ai hành được, mới là việc đáng nói ở đời sau. Nếu chỉ biết mà không hành, đối với tha nhân và vạn hữu cũng chẵng có một giá trị gì.

Cũng chính vì những lý do nêu trên nên tôi đã cố gắng viết, viết để lại cho đời, viết cho mình thổ lộ được hết tâm tư của mình nơi giấy trắng mực đen và viết cho đời sau biết rằng, người đi trước đã làm được những gì , vì vậy cho nên viết rất cần thiết.

Năm nay tôi định viết về một Vụ Án Một Người Tu, nên đầu đề của quyển sách nầy có tên như thế. Có thể nhiều người tò mò sẽ tìm đọc. Tại sao tu rồi mà còn có án? Mà người tu nào như vậy? Đạo nào thế cơ? vân vân và vân vân. Câu chuyện ở đây cũng có thể là có thật mà cũng có thể là giả tưởng. Vì đã gọi là tiểu thuyết thì không có gì để tin chắc là 100% được. Tuy nhiên nếu có những nhân vật và hoàn cảnh trong cuộc sống của ai đó, giống như những gì tôi đem ra viết trong quyển sách nầy, đó chẳng qua là sự trùng hợp và hoàn toàn không có chủ ý.
Khi chọn lựa đề tài và sắp đặt câu chuyện, tôi mong rằng sẽ đi sâu từng chi tiết một, để câu chuyện hữu lý hơn; nhưng trước khi đi Canada lần nầy đã cung đón Đức Đạt Lai Ma về Chùa Viên Giác, nơi tôi đang trụ trì; nên có lẽ Chương đầu của quyển sách nầy, chỉ nói về bậc Thánh nhân ấy, không liên quan trực tiếp đến câu chuyện của quyển sách. Vì con người ấy cũng là một người tu; nhưng người tu ấy thế giới phải kính phục, nhân loại phải tung hô. Còn câu chuyện của tôi sắp viết cho qúy vị đọc, cũng một nhà tu; nhưng câu hỏi còn nằm trong vòng nghi vấn.

Vậy mong rằng, qúy vị đọc sách nầy hãy hiểu ý, quên lời, ấy mới đúng là dụng tâm của Tác giả muốn gởi gắm đến quý vị độc giả xa gần. Mong lắm thay.

Thích Như Điển.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22/10/2010(Xem: 6465)
Tại biên giới của tỉnh Tây Khương sát với Tây Tạng, có một bà lão sống cô độc, chồng và đứa con trai duy nhất của bà đã qua đời. Bà sống nhờ một thửa đất nhỏ trồng những hạt ngũ cốc. Vì cuộc đời đã trải qua nhiều gian truân từ nhỏ, bà lão cảm thấy nghiệp chướng trong người rất nặng nên đã cố công tìm hỏi những người chung quanh phương pháp chuộc tội để cầu xin cho tâm hồn được bình yên.
21/10/2010(Xem: 13976)
Bị xổng một lần trong khóa tu học kỳ 6 tại Bỉ, vì chọn ngày hè trật đường rầy (hãng tôi làm việc phải chọn hè từ đầu tháng 2); năm sau, tôi quyết tâm canh ngày giờ cho đúng để tham dự cho bằng được khóa tu học kỳ 7 tại Đan Mạch, do Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Âu Châu tổ chức.
19/10/2010(Xem: 14303)
Khi xe chúng tôi đến nơi, đồng hồ chỉ đúng 12 giờ khuya. Phòng ốc dành cho 300 giường đã không còn chỗ trống. Ban Tổ Chức đành trưng dụng phòng họp, phòng học - một cho phái nữ, một cho phái nam - với các tấm nệm lót dưới đất cho chúng tôi ngủ tạm. Giải quyết một lúc cho phái đoàn Thụy Sĩ 30 người - chưa kể các nước khác - đâu phải dễ. Vả lại đi chùa thì phải chấp nhận "ăn chay nằm đất". Nằm "đất" còn phải chịu, lựa là nằm "nệm", nên chúng tôi vui vẻ nhận lời, không than van gì cả. Mà than van nỗi gì được khi đã hiểu giáo lý (dù chút chút) của đạo Phật. Mọi sự phải do "duyên" mà có. Và "duyên" này khởi từ "nhân" chiều nay.
17/10/2010(Xem: 14993)
Hơn 6 tiếng xe lửa từ Aschaffenburg, tôi trở về đến nhà gần 10 giới tối. Lục đục tắm rửa, ăn chén súp nóng (do chồng nấu cho) huyên thuyên kể chuyện, rồi đánh răng... mãi gần 12 giờ khuya tôi mới lên giường đi ngủ. Sáng sớm hôm sau 6 giờ thức dậy sửa soạn đi... cày. Công việc ứ đọng của 2 ngày thứ 5, thứ 6 (lấy hè, cộng với công việc của thứ 2 đầy ắp trên bàn. Tôi một mình chịu trách nhiệm một phòng không ai thay thế). Ông xếp trước khi về văn phòng còn đứng đó chờ đợi, vẻ lo âu. Tôi trấn an ông:
17/10/2010(Xem: 7767)
Tết Trung Thu ăn vào ngày rằm tháng 8. Nguyên cuối đời nhà Tây Hán (206 trước 23 sau D.L.), Vương Mãng nhân được cầm giữ chính quyền...
17/10/2010(Xem: 4970)
Một vị thương gia lập nghiệp từ tay trắng, sau kiếm được rất nhiều tiền nhưng vì buôn bán trong thời kinh tế không ổn định, khiến anh ta trở nên phá sản, nợ nần chồng chất. Nghĩ mãi không tìm ra cách giải quyết, anh ta bèn ra bờ sông tự tử. Vào lúc canh ba một đêm nọ, anh ta đến trước bờ sông, bỗng nhiên nhìn thấy một thiếu nữ đang ngồi khóc thảm thiết, anh bèn đến hỏi cô gái: - Có chuyện gì mà đêm hôm khuya khoắt cô ngồi khóc một mình ở đây?
16/10/2010(Xem: 6557)
Hàng ngàn năm trước tây lịch, khi thổ dân Dravidian còn ngự trị khắp lãnh thổ Ấn Độ cổ thời, vùng phía tây Hy Mã Lạp Sơn là lãnh địa của rắn. Vốn là vùng rừng núi bạc ngàn nằm trên nóc nhà thế giới, Hy Mã Lạp Sơn là nơi thâm u bí hiểm với sơn lam chướng khí trùng trùng và vô số loài thú dữ cư ngụ sẵn sàng lấy mạng người để làm thức ăn. Thời đó, thổ dân Dravidian không có đủ vũ khí hùng mạnh để chống cự với các loài mãnh thú và tự bảo vệ mình. Từng người vào rừng săn tìm thức ăn đã không thấy trở về. Độc địa nhất không phải chỉ là những hổ, cọp, gấu, beo nằm lồ lộ chờ mồi bên bờ suối, dưới gốc cây hay trong khe đá, mà ngay bên dưới lớp lá khô mục của đường rừng là những loài rắn nguy hiểm chực chờ bước chân người.
16/10/2010(Xem: 6373)
Trong thiền không có đầu đuôi, khúc chiết, lý luận. Nó đập vỡ lý luận. Đó là thế giới lý tưởng của câu thơ lớp ba mồ côi luận lý. Thế giới của những câu cuối lấc cấc, mẹ gà con vịt. Đừng bắt tôi giải thích; hãy lang thang với tôi trong câu cuối của dăm ba chuyện thiền nổi tiếng.
16/10/2010(Xem: 5505)
Trong đời, tôi đã thấy mặt trăng lần nào chưa? Nhìn trăng, tôi nhìn cả đời. Nhưng thấy trăng, tôi không dám nói chắc. Khi tôi nhìn trăng trước mắt, tôi nghĩ đến trăng nửa khuya loáng thoáng trên tàu lá chuối sau vườn cũ. Tôi nghĩ đến đèn trung thu lúc nhỏ. Tôi nghĩ đến cái chõng tre giữa sân trên đó, ngày xưa, tôi nằm nhìn mây bay. Nhìn trăng, tôi không thấy trăng. Chỉ thấy lá chuối, chõng tre. Thấy cả tôi với trẻ con hàng xóm nô đùa. Có lần tôi trốn tìm với chúng nó, bị lộ, tôi nhảy bừa vào bụi tre, bất ngờ có đứa con gái đã ngồi sẵn trong đó. Tôi sợ hoảng, toan vọt ra thì nó kéo tay tôi lại, ấn vai tôi xuống, cười đồng lõa. Trong loáng thoáng của cây lá, tôi thấy hai cái răng cửa của nó sáng ngời ánh trăng. Bây giờ, nhìn trăng non, tôi thấy cái miệng và hai cái răng. Tựa như hai cái răng của nó phát ánh sáng và in hình miệng nó lên bầu trời.
16/10/2010(Xem: 5348)
Ngày xưa, một nhà quan lang họ Cao có hai người con trai hơn nhau một tuổi và giống nhau như in, đến nỗi người ngoài không phân biệt được ai là anh, ai là em