Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Cảm Niệm Ngày Phật Đản

21/09/201013:19(Xem: 2259)
Cảm Niệm Ngày Phật Đản

Mỗinăm đến ngày Phật Đản, nhìn hình tượng đức Phật Sơ Sinh tôi có cảm giácrằng sự kiện lịch sử ấy xảy ra dường như không xa lắm.
Mớimột ngày nào trong vườn Lâm Tỳ Ni nơi thành Ca Tỳ La Vệ nước Nepal (mộtvương quốc của Ấn Độ), đức Từ phụ của chúng ta vì lợi ích của chúng sanh mà một lần nữa trở lại cõi đời này với hình ảnh một con người bình thường, một thoáng thời gian mà đã 2625 năm trôi qua, nhưng hình ảnh bậcvĩ đại đó vẫn còn sống mãi với dòng thời gian bất tận, và tồn tại mãi trong con tim của người phật tử chúng ta.

Hìnhảnh đức Phật đản sinh, với một tay chỉ lên trời và một tay chỉ xuống đất, Ngài tuyên bố rằng: "Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn", người phật tử bình dân đều cho rằng ý nghĩa câu nói ấy là đức Phật tuyên bố: "Trên trời dưới đất Ngài là một con người duy nhất không ai vượt hơn", thật sự Ngài là một con người mà thế gian không ai vượt hơn, nếu hiểu một cách cạn cợt, và trên văn tự thì ngoại đạo sẽ cho rằng đức Phật chưađoạn trừ được "Tự ngã", vì còn cho mình là một người không ai sánh bằng. Từ Độc Tôn ở đây đức Phật muốn nhấn mạnh rằng: "trong vũ trụ bao la này Ngài là một con người bình thường như bao nhiêu người bình thườngkhác cũng được cấu tạo bằng xương thịt nhưng Ngài không còn chi phối bởi các pháp hữu vi, một con người nhận chân được bản giác thường chân của chính mình", sự hiện thân của Ngài ở thế giới Ta Bà này dùng nhiều phương pháp để cho chúng sinh nhận chân được cái giác tánh vĩnh hằng, vịphật của chính mình, kinh Pháp Hoa gọi là "Tri Kiến Phật", Ngài muốn nhấn mạnh rằng: Bản giác của chúng sinh là một vật thường hằng nhưng chúng sinh vì mong cầu dục lạc mà cái thường chân đó đã bị bỏ quên "Một thuở đức Phật tại nước Ba La Nại, nơi vườn Lộc Uyển, bấy giờ có hàng ngàn vị tỳ kheo và chư thiên thần, đều có mặt trong đại hội, tự nhiên một bánh xe pháp luân xuất hiện trước mặt đức Phật và đại chúng. Đức Phật dùng ngón tay của mình chỉ vào bánh xe pháp luân đó và nói rằng: Tatừ vô số kiếp về trước, bị lay chuyển trước danh sắc nên phải chịu vô lượng khổ, nay mọi nghi ái đều đã đoạn tận, giải thoát các kiết sử và lậu hoặc, các căn đã định, sinh tử đã đoạn trừ, không còn luân chuyển trong Ngũ đạo…" (Đại tạng kinh, A hàm bộ cuốn 2, kinh Chuyển Pháp Luân, trang 503)

Chínhvì vậy trên phương tánh giác Ngài vượt xa hơn một con người bình thườngnhư chúng ta, nên Ngài ở trong một niệm mà tròn đầy khắp cả pháp giới thanh tịnh, còn chúng sinh thì trong một niệm khởi dẫy đầy phiền não khổđau và cứ mãi truy tìm cái dục lạc khổ đau đó, không liễu tri được rằngtrong niềm vui tạm bợ ấy đã nảy sinh mầm mống của khổ đau, vì trong "quả" đã hàm tàng cái "nhân" và do "nhân" mà hình thành nên "quả". Điều này chúng ta thấy rõ ở giáo lý Duyên Khởi của Phật giáo "thử hữu cố bỉ hữu, thử vô cố bỉ vô; thử sinh cố bỉ sinh, thử diệt cố bỉ diệt", vì cái này có nên cái kia có, cái này không nên cái kia không; cái này sinh nêncái kia sinh, cái này diệt nên cái kia diệt", sự sự vật vật trùng trùngđiệp điệp đều như thế. Nếu chúng ta cho rằng sự hiện hữu của mọi sự vậttrên cõi đời này điểm xuất phát của nó là từ "không" hay "có" thì chúngta lại rơi vào vòng tương đãi, học thuyết của Lão Tử rơi vào trường hợpnày, Ngài nói:

"Phản giả đạo chi động
Nhược giả đạo chi dụng

Thiên hạ vạn vật sinh ư hữu

Hữu sinh ư vô"
Nghĩa là:
Trở về là cái động của đạo

Yếu nhược là cái dụng của đạo
Mọi vật trong thiên hạ sinh ra từ "có"
Mà "có" lại sinh ra từ "không"

Thếnên những học thuyết của Nho giáo vẫn không được xem là giáo lý giải thoát như Phật giáo. Chính vì vậy, nên suốt chiều dài lịch sử khi thì tồn tại, lúc thì bị xã hội không chấp nhận; nếu được phát triển chăng thì điểm tột cùng của những tư tưởng đó cũng chỉ dạy cho con người trở thành một người tốt trong xã hội tương đương với Ngũ giới của Phật giáo.Trong nền giáo lý trác tuyệt của Phật giáo, những điều đức Phật nói ra hàng ngàn năm trước đây, có những điều mà các nhà khoa học chưa phát hiện thì trong Thánh giáo điển đức Phật đã tuyên bố. Chúng ta không nên nhìn đức Phật bằng cái nhìn khoa học, học vị mà phải nhìn Ngài ở gốc độ giác ngộ thì chúng ta mới nhận ra được sự khác biệt giữa Ngài và những vị giáo chủ, luận chủ của các tôn giáo, học thuyết khác, đó chính là tính ưu việt của đức Từ phụ chúng ta. Khoa học phát triển đến điểm tột cùng của nó, nó vẫn không thoát khỏi những dụng cụ do tri thức phát minhvà vẫn phải tiếp tục truy nguyên, tìm tòi… không ngày kết thúc. Còn đức Phật chúng ta bằng kinh nghiệm và chứng đắc thực tiễn nên trong một niệmthanh tịnh Ngài nhìn thấy được Tam thiên đại thiên thế giới. Khi phật giáo Đại thừa phát triển các luận sư đã chứng minh được điều này tức "Nhất niệm tam thiên", Ngài Long thọ nói: "pháp chân thật không điên đảo, các tưởng niệm đã trừ sạch, ngôn ngữ của các pháp đều đã diệt, chúng sinh vô lượng tội đã trừ sạch, chỉ thường trú nơi nhất tâm, khi đạt được trạng thái này thì có thể thấy được Bát nhã" (luận Ma Ha Chỉ Quán). Chúng ta ngày nay nhìn sự vật hiện tượng bằng những tưởng niệm mộng tưởng điên đảo, phan duyên bởi các pháp, nên không thấu triệt được nguồn tâm là thường trú, bất biến, chân như…Nếu dùng tâm này để thấy được con người và sự vật luôn ở trạng thái sinh - trụ - dị - diệt; thành- trụ - hoại - không, thì chúng ta trong một niệm sẽ đầy đủ tất cả tam thiên thế giới, đó là chỗ vi diệu trong những lời dạy của đức Phật, nội dung kinh Pháp Hoa nói rõ đức Phật dùng đại bi tâm mà khai phương tiện để chúng sinh thấy được pháp Ngài nói ra là Diệu Hữu, pháp này làm cho tất cả chúng sinh đều có thể: "Mặc áo Như lai, ngồi tòa Như lai, mặc áo Như lai", có thể về đến chốn Bảo sở.

Vớimột hệ thống giáo lý trác tuyệt như vậy đã nuôi dưỡng chúng ta, đã làm cho chúng ta trưởng thành trong chánh pháp. Mỗi năm ngày Phật Đản trở về, hình ảnh Ngài nói pháp suốt lộ trình 45 năm đã sống lại trong hàng triệu ngàn con tim của những người con Phật trên khắp năm châu bốn bể, hình ảnh một vị hoàng tử đã từ bỏ tất cả những gì cao quý nhất của con người trong đời sống thế gian từ tinh thần lẫn vật chất để đi tìm lý tưởng xuất thế, con đường Ngài tìm ra trãi qua quá trình thực nghiệm và chứng ngộ đã đem lại niềm an vui, hạnh phúc cho tất cả chúng sinh trên hành tinh này. Nhân ngày kỷ niệm ngày đản sinh của Ngài, chúng ta cùng nhau ôn lại một khía cạnh nào đó trong kho tàng giáo pháp bất tận, để thấy đượ? chân giá trị về lời dạy của Ngài, mà thế gian tôn thờ Ngài là bậc thầy của trời người "Thiên nhơn chi đạo sư".

"Dung nhan Phật tốt lạ lùng
Hào quang chiếu sáng khắp cùng mười phương
Từ bi oai đức không lường

Ra đời tế độ dẫn đường chúng sinh
Được thấy tướng, lại nghe danh
Cũng nhờ kiếp trước căn lành trồng sâu
Thế tôn đủ phép nhiệm mầu
Làm cho muôn loại cúi đầu quy y"

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28/08/201017:20(Xem: 23078)
Quyển 6 • Buổi Pháp Thoại Trên Đỉnh Cao Linh Thứu (Gijjhakūṭa) • Ruộng Phước • Tuệ Phân Tích Của Tôn Giả Sāriputta • MÙA AN CƯ THỨ MƯỜI CHÍN (Năm 569 trước TL)- Mỹ Nhân Giá Mấy Xu? • Chuyện Cô Sirimā • Móc Cho Con Mắt Đẹp • Ngạ Quỷ Mình Trăn • Cùng Một Nguyên Lý • “Hớt” Phước Của Người Nghèo! • Ghi chú đặc biệt về hạ thứ 19: • MÙA AN CƯ THỨ HAI MƯƠI (Năm 568 trước TL)-Phước Cho Quả Hiện Tại • Bảy Thánh Sản • Chuyện Kể Về Cõi Trời • Hóa Độ Gia Đình Thợ Săn • Nhân Duyên Quá Khứ
28/08/201011:53(Xem: 26865)
Sau khi sinh hoạt của hội chúng đã tạm thời đi vào quy củ, nền nếp; đức Phật thấy thời tiết có nắng nhẹ, trời không lạnh lắm, thuận lợi cho việc du hành nên quyết định rời Gayāsīsa, đến kinh đô Rājagaha, đường xa chừng sáu do-tuần. Thấy đoàn sa-môn quá đông, khó khăn cho việc khất thực, đức Phật gợi ý với ba anh em Kassapa cho chúng đệ tử phân thành từng nhóm,