Bộ hình phác họa về lịch sử, cuộc đời đức Phật do một họa sĩ người Thái Jamnuon Jhanando thực hiện. Những lời giải thích do cá nhân chúng tôi chú thích, nếu có sai sót xin nhờ quý vị chỉnh sửa dùm cho đúng. Kính tri ân…
Tại vườn Lumbini, Hoàng hậu Mahāmāyā ngự đến một cây Sālā có thân to, đầy hoa đang nở rộ. Khi đứng đưa cánh tay phải lên, thì cành cây tự nhiên sà xuống, bà đưa tay nắm lấy cành cây với tư thế dáng đứng rất đẹp và rất vững vàng. Liền lúc ấy, hoàng hậu trở dạ, các cung nữ lập tức che màn xung quanh nơi đang đứng ; khi ấy, Đức Bồ-tát cao quý đản sinh ra đời khỏi lòng hoàng hậu Mahāmāyā một cách nhẹ nhàng, thảnh thơi với bàn chân phải bước xuống trước, ví như một vị pháp sư rời khỏi pháp tòa. Khi ấy, là vào ngày thứ sáu, ngày trăng tròn tháng Vesākha (nhằm ngày rằm tháng tư) năm 623 trước tây lịch, đúng mười tháng trụ thai trong lòng mẹ.Đạo sĩ asita là một vị quốc sư tinh thông tướng pháp, đoán số và biết cả quá khứ, vị lai nên sau khi xem xét kỹ 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp trên người của thái tử, và biết rằng thái tử sẽ thành một vị Phật trong tương lai.Năm ngày sau khi sanh, tám vị Bà-la-môn tinh thông lỗi lạc được mời vào hoàng cung để tham dự lễ đặt tên cho Thái tử. Bảy vị tiên tri thái tử sẽ là một vị Chuyển luân vương hoặc sẽ là một vị Phật vô thượng ở thế gian. Duy nhấT chỉ có vị Bà-la-môn trẻ tuổi nhất tên Koṇḍañña quả quyết rằng Thái tử chắc chắn sẽ xuất gia và thành Phật.Lúc 7 tuổi, Thái tử được dẫn đi dự lễ Hạ điền của hoàng gia. Lúc mọi người vui chơi lễ hội thì Thái tử ngồi dưới cội cây trâm tham thiền và đắc được sơ thiên. Khi vua cha trở lại thấy Thái tử như thế liền quỳ xuống đảnh lễ con mình.Thái tử Siddhattha trổ tài bắn cung phi thường trong cuộc thi tranh tài để cưới công chúa Yasodharā.Năm 16 tuổi, Thái tử sánh duyên cùng Công chúa Yasodharā.Cả hai sống rất hạnh phúc bên ba tòa lâu đài nguy nga tráng lệ với biết bao thú vui vật lạ và cung phi mỹ nữ. Vua cha muốn giữ chân Thái tử bằng những thú vui trần tụcNgười hầu Channa đánh xe đưa Thái tử dạo quanh bốn cổng thành, và ngài chứng kiến được ba sự thật của cuộc đời Lão – Bệnh – Tử cùng với hình ảnh của một vị du sĩ (Tăng) đang an nhiên tự tại bên vệ đường giúp cho ngài nhận thức được cuộc sống và tìm con đường ra đi để thoát khỏi những khổ đau đó…Năm 29 tuổi, Thái tử rời bỏ cung vàng, vợ con để ra đi xuất gia, tìm đường giải thoát. Ngài cắt tóc và trao lại cân đai áo mão để mặc vào chiếc y vàng cho đời sống tu sĩ vô gia cư, vô sản.Đức vua Bimbisāra dò hỏi về lai lịch và nguyên nhân xuất gia của bồ-tát, vua ngưỡng mộ và xin dâng nửa vương quốc để hai người cùng trị vì vương quốc.Bồ tát tu khổ hạnh tại Khổ Hạnh lâm, ở Uruvela cùng với năm vị đạo sĩ đồng tu do Koṇḍañña làm trưởng nhóm.Thái tử cùng với 5 người bạn đồng tu trong 6 năm ròng rã, kiên trì khổ hạnh ép xác tới mức con người Thái tử gầy khô như bộ xương, đôi mắt sâu hoẵm xuống, sức khỏe giảm sút đến nỗi Ngài không còn đi vững được nữa.Nàng Sujātā dâng cúng cơm sữa trước ngày bồ tát thành đạo.Ma vương và binh ma chiến đấu với bồ tát để dành lại bồ đoàn nhưng chúng đã thất bại nặng nề.Do nhờ oai lực Ba-la-mật mà Ngài đã vun trồng trong vô lượng kiếp đã giúp Ngài chiến thắng bọn ác ma hung dữ.Bồ tát thành đạo vào rạng sáng đêm rằm tháng Tư tại Bodhgaya, năm đó Ngài vừa 35 tuổi.3 ma nữ là con gái ma vương đến quyến rũ Đức Phật nhưng cũng bị thất bại như cha của chúng.Tuần lễ thứ 6 sau khi giác ngộ, Đức Phật đã ngự tại cây Mucalinda một tuần lễ để chứng nghiệm Hạnh Phúc Giải Thoát. Bỗng nhiên có một trận mưa to kéo đến. Trời sẫm tối dưới lớp mây đen nghịt và gió lạnh thổi suốt nhiều ngày. Mãng xà Mucalinda từ ổ chun ra, uốn mình quấn xung quanh Đức Phật bảy vòng và lấy cái mỏ to che trên đầu Ngài. Nhờ vậy mà mưa to gió lớn không động đến thân Đức Phật.Phạm thiên Sahampati thỉnh cầu Đức Phật thuyết giảng Giáo Pháp để đem Giáo pháp bất tử đến cho những chúng sanh hữu duyên được giác ngộ.Đức Phật chuyển Pháp luân tại vươn Nai để tiếp độ nhóm năm anh em ngài Koṇḍaññ vào ngày trăng tròn tháng Āsaḷha.Đức Phật tiếp độ công từ Yasa xuất gia trở thành vị thánh tăng thứ sáu trong Phật giáo.Đức Phật thuyết pháp tiếp độ đến ba anh em đạo sĩ thờ lửa Kassapa cùng với 1000 đồ chúng của họ.Devadatta thỉnh cầu Thế Tôn chấp nhận và ban hành năm điều đến chúng Tỳ-khưu: 1. Tỳ Khưu phải sống trọn đời trong rừng. 2. Tỳ Khưu phải sống đời du phương hành khất. 3. Tỳ Khưu phải đắp y Pamsakula (y may bằng những mảnh vải lượm ở các đống rác, hoặc ở nghĩa địa). 4. Tỳ Khưu phải sống dưới gốc cây. 5. Tỳ Khưu phải ăn chay suốt đời. Nhưng đức Phật từ chối, vì lý do đó mà Devadatta chống đối lại đức Phật.Một vị Bà la môn ở Verañjā nghe Đức Phật ngụ tại quê mình cùng với đông đảo chúng Tăng, gần cây Nimba của Naleru nên đến hầu Ngài và nêu lên nhiều câu hỏi có liên quan đến phẩm hạnh của Đức Phật. Sau khi được nghe lời giải đáp, vị Bà la môn lấy làm hoan hỷ, xin quy y Tam Bảo và cung thỉnh Đức Phật và chư Tăng ở lại nhập Hạ tại Verañjā. Đó là mùa hạ thứ 12 của Ngài.Ngày rằm tháng Māgha, tại Trúc lâm tịnh-xá, đức Phật đã thuyết giáo giời đến chư Tỳ-khưu gồm 1250 vị Thánh Tăng. Đây được xem là kỳ đại hội Thánh tăng duy nhất trong thời kỳ Giáo pháp của đức Phật GotamaSự kiện xảy ra vào hạ thứ 10 tại Kosambi do sự chia rẽ trong Tăng chúng tại đây nên đức Phật quyết định vào rừng Pārileyyaka an cư suốt ba tháng mùa mưa. Tại đấy, Ngài được một voi chúa và một khỉ chúa hộ độ suốt ba tháng an cư rất chu đáo.Sau bảy năm xa cách, đức Phật hồi hương lần thứ nhất và đến thăm viêng Công chúa Yasodharā, khi được Đức Phật đến thăm nàng đã quỳ xuống xõa tóc dưới chân ngài khóc than.Hoàng hậu Yasodhara dạy công tử Rahula đến Đức Phật xin gia tài của Ngài. Và rồi Đức Phật cho tôn già Sāriputta làm lễ xuất gia sadi cho công tử Rahula năm đó chỉ vừa 7 tuổi.ỳ-khưu Nanda (em cùng cha khác mẹ với đức Phật) đã xuất gia nhưng tư tưởng vẫn còn mong ngóng về người đẹp của mình. Đức Phật đưa ông lên cõi trời, cho ông thấy các tiên nữ xinh đẹp và hứa sẽ giúp ông cưới được một nàng tiên nếu ông tiếp tục đời tu. Nanda nỗ lực tu tập và đạt thánh quả Alahán.Tướng cướp khét tiếng Aṅgulimāla định giết Đức Phật cho đủ số lượng 1000 người nhưng được Ngài tiếp độ, xuất gia và đắc A-la-hán.Devadatta khiếni cho voi Nalāgiri uống rượu say, chận đường đi của Đức Phật để giết hại Ngài. Đức Phật dùng tâm từ chế ngự voi, và voi trở nên thuần thục.Devadatta hối hận vì những gì mình gây ra nên kêu các đệ tử khiêng mình đến Jetavana sám hối với đức Phật, nhưng do ác nghiệp đã tạo, ông bị hộc máu và đất rút, rơi vào địa ngục Āvīci.Năm đức Phật 40 tuổi, phụ vương Suddhodana của Ngài lâm trọng bệnh, Ngài đã trở lại tiếo độ vua cha đắc quả Alahán và viên tịch Níp-bàn ngay trong khi ấy.Vào hạ thứ 7, đức Phật ngự lên cõi trời Tāvatiṃsā để thuyết Abhidhamma tiếp độ Phật mẫu, lúv bấy giờ là một thiên nam tại cõi trời Tusita.Khi 80 tuổi, sức khỏe đức Phật đã yếu, Ngài cũng đã khả hứa với ma vương sẽ Vô dư y níp-bàn sau ba tháng nữa. Ngài Ānanda thỉnh cầu đức Phật ở lại tiếp tục độ sanh nhưng không kịp nữa.Thợ rèn Cunda cúng dường vật thực đến đức Phật và chúng Tỳ-khưu, Theo lời chỉ dạy của Đức Phật, Cunda chỉ dâng vật thực ấy đến Ngài mà thôi, còn lại bao nhiêu phải đem chôn, sẽ không có ai khác dùng đến. Sau khi thọ thực xong, Đức Phật nhiễm bệnh lỵ huyết trầm trọng, rất đau đớn, gần như sắp chết. Nhưng Ngài nhẫn nại chịu đựng, điềm tĩnh, không một lời rên xiết. Đây là bữa cơm cuối cùng trước khi Thế Tôn viên tịch Níp-bàn.Đức Phật tiếp độ đạo sĩ Subhadda trong đêm cuối cùng trước khi viên tịch Níp bàn. Đây là vị đệ tử Đức Phật tiếp độ cuối cùng.Đức Phật tiếp độ đạo sĩ Subhadda trong đêm cuối cùng trước khi viên tịch Níp bàn. Đây là vị đệ tử Đức Phật tiếp độ cuối cùng.Sau 45 năm hoàng pháp độ sinh, Đức Phật viên tịch Níp-bàn dưới hai cội sala tại Kusinārā của người Mallā vào đêm trăng tròn tháng Vesākha, năm đó Ngài vừa tròn 80 tuổi.
Milan, ngày 6/4/2020, Nhân mùa Phật đản PL. 2564, 90 tổ chức thuộc Xã hội dân sự như một khu vực thứ ba (Organizzazioni del Terzo Settore) trong xã hội, đã được nhận phần đặc biệt của quỹ 1,5 triệu euro do Liên minh Phật giáo Ý (L'Unione Buddhista Italiana) phân bổ, nhằm hỗ trợ cho những người cam kết phòng chống sự lây lan của đại dịch Covid-19.
Kính bạch Đức Thế Tôn! Mấy hôm nay sau buổi toạ thiền, con ngước nhìn lên tôn tượng Phật Đản Sanh trong lòng lại có những cảm xúc rất lạ. Đặc biệt là lòng Tri Ân và Thương Kính Ngài thật sâu lắng. Ngài thật vĩ đại, sự xuất hiện của Ngài đã làm thế giới đổi thay và mầu nhiệm. Ngài đã bỏ lại tất cả những gì thuộc cá nhân và đi tìm con đường chấm dứt khổ đau cho nhơn loại. Và cuối cùng Ngài đã tìm thấy. Từ đó hạnh phúc của muôn loài được khai sáng trong Tình Thương vô ngại của Đức Thích Ca Mâu Ni. Nghĩ đến đây trong lòng con một lần nữa lại chấn động trước sự Vĩ Đại ấy của Người.
Toàn thế giới tràn ngập nước mắt tang thương trước cơn Đại dịch COVID-19 hiện nay. Chúng tôi tha thiết kêu gọi những người con Phật nhất tâm vận chuyển năng lượng từ bi cứu khổ để hóa giải oan khiên này. Chưa lúc nào như hiện nay, loài người đồng hướng về một điểm: Cùng xô đẩy, chống lại con vi trùng bé nhỏ đầy kinh hãi như vậy. Định lực và Trí lực sẽ thay đổi nghiệp lực và ma lực. Đức Phật Thích Ca đã đi qua con đường ấy trên đường giác ngộ, đặc biệt trong đêm thành Đạo, nhờ Định lực và Trí lực mà Ngài đã điềm nhiên trong bao trận cuồng phong thách đố của ma vương trước giờ thành Phật.
Thành phố Vatican
Quý Đạo hữu Phật tử thân mến,
Thay mặt Hội đồng Tòa thánh về Đối thoại Liên tôn, chúng tôi xin chân thành gửi lời chào và lời chúc phúc cát tường đến với quý đạo hữu Phật tử và tất cả các cộng đồng Phật giáo trên khắp thế giới trong dịp quý đạo hữu Phật tử kính mừng Đại lễ Vesak PL. 2564 (2020). Trong 24 năm qua, Hội đồng Tòa thánh về Đối thoại Liên tôn vẫn gửi lời chào đến quý đạo hữu Phật tử trọng dịp đại hoan hỷ này. Năm nay là năm kỷ niệm 25 năm của sứ điệp truyền thống này, chúng tôi muốn làm mới lại mối tương quan tình đạo hữu và hợp tác của chúng tôi với các truyền thống khác mà quý đạo hữu Phật tử là đại diện.
Người tu Phật ai ai cũng có đức tin, nhưng nếu không rõ được rành mạch những lịch sử hoặc những hành vi của các vị Bồ tát phải hành thế nào để thành được một bậc Chánh Đẳng Chánh Giác và do nhờ pháp Ba-la-mật (PÀRAMITA) nào đưa các ngài qua tới bờ giác ngạn là Niết Bàn, thì đức tin ấy có khi cũng mơ hồ và có khi cũng lầm lạc.
Vì vậy nên tôi không nệ tài hèn học kém, ráng sao lục tóm tắt theo Tam Tạng Pàli (TIPITAKA) bộ kinh Chánh giác tông (BUDDHAVAMSA) và quyển Chư Bồ tát vị lai (ANÀGATAVAMSA) để đem lại một vài tia sáng cho các nhà tu Phật. Ai là người có chí muốn thành một bậc Chánh Biến Tri, hãy noi theo gương lành của các Ngài và thực hành theo mới mong chứng quả được.
Trong quyển kinh này có nhiều đoạn hơi khó hiểu hoặc không thể tin được vì oai lực và pháp Ba-la-mật của một vi Phật Tổ khác Thường xuất chúng và thời đại cũng khác nhau vượt qua khỏi trình độ suy nghĩ hoặc hiểu biết của phàm nhơn.
Nên độc giả xem quyển kinh này nên dùng đức tin mà hiểu biết rằng: "Muốn thà
Video: Hành Trình Khám Phá về Sự Thật Xá Lợi của Đức Phật (Rất hay, rất cảm động khi xem, quý vị nên tranh thủ vào xem liền, chân thành cảm ơn nhà văn, nhà khảo cô người Anh Charles Allen đã thực hiện cuốn phim tài liệu công phu và độc nhất vô nhị để tôn vinh và tìm ra sự thật về xá lợi của Đức Thế Tôn sau 26 thế kỷ, from Thích Nguyên Tạng, chủ biên trang nhà Quảng Đức)
Chúng tôi sử dụng cookie để cung cấp cho bạn trải nghiệm tốt nhất trên trang web của chúng tôi. Nếu tiếp tục, chúng tôi cho rằng bạn đã chấp thuận cookie cho mục đích này.