Cõi Thơ Uyên Mặc Đặng Tấn Tới

10/04/202609:15(Xem: 1970)
Cõi Thơ Uyên Mặc Đặng Tấn Tới

dang tan toi-1


CÕI THƠ UYÊN MẶC ĐẶNG TẤN TỚI


 

 

1. An Nhơn Vờn Trăng Nước Trường Thi

 

Đặng Tấn Tới là thi sỹ của đất trời. Anh từ  vũ trụ, càn khôn đến đây để rong chơi, Chơi Trong Buổi Hội Mấy Màu Thanh Thiên, như một bài thơ mà anh đã viết cách đây hơn nửa thế kỷ.Với anh, thi ca là Hơi Thở:

 

“Một hơi vừa đi mất

Cho ta hơi mới đầy

Chan hòa hương màu đất

Vui trời chơi gió bay”

 

Gió bay mây nổi, hòa chan cùng vạn hữu, phiêu hốt một hồn thơ vừa cao rộng vừa sâu thẳm, trầm lắng, thung dung với nụ cười hiền, thiên lương như sông nước Trường Thi mà thuở nhỏ, anh thường hay chạy ra bơi lội, rỡn đùa chơi với sóng thơ và hoa nắng...

 

Trăng gió An Nhơn, vờn mộng quê nhà Bình Định lung linh đã sinh ra thi sỹ ngày 24 tháng 2 năm 1943. Hoa đồng cỏ nội, bờ tre, vườn chuối, hàng cau, cánh đồng, bến sông quê, trăng sương, gió núi, biển ngàn là dưỡng chất thiên nhiên một thời tuổi trẻ, thanh xuân, rực ngời cả trời thơ đất mộng bồng bềnh...

 

Rồi lớn lên giữa không khí Đường thi Quách Tấn, Đông Hồ, Yến Lan, Vũ Hoàng Chương và lãng mạn đầy sáng tạo Bùi Giáng, Hàn Mặc Tử, Huy Cận, Xuân Diệu, Đinh Hùng, Bích Khê, Chế Lan Viên....Hít thở bầu không khí văn chương dị thường, chứa chan tình cảm đó, cho nên khi vừa mới 15, 16 tuổi, câu hỏi bất ngờ đầu tiên của anh là Thơ là gì? Thi ca là cái chi? Một câu hỏi như một công án Thiền mà  bình sinh trong cuộc sống, anh luôn trăn trở, thắc mắc thành một mối đại nghi suốt ngày đêm không ngừng nghỉ. Thi ca là gì? Ngay cả Bùi Giáng cũng không trả lời được:

 

“Con chim thì ta biết nó bay

Con cá thì ta biết nó lội

Thằng thi sỹ thì ta biết nó làm thơ

Nhưng thơ là gì?

Thì đó là điều

Ta không biết!”

 

2. Thi Ca Là Gì?

 

“Thi ca trời đất là da

Thịt xương máu tủy thơ là trăng sao

Núi xanh sông trắng lộn nhào

Những khi gió thoảng mưa rào chợt ghi”

 

Thi sỹ tự hỏi, tự đáp như thế, rồi cao hứng, bừng cháy lên ngọn lửa đam mê đầy quyến rũ, liền vội ghi lại hàng trăm bài thơ đầu tiên, còn nằm trong bản thảo (1961) Dào dạt trong trạng thái phiêu diêu, tiêu sái, xuất thần ấy, kéo dài đến mấy chục năm trời vừa điêu linh, thống khổ, vừa thăng hoa tuyệt hảo, khiến anh đã miên man sáng tạo thành 7 thi phẩm tâm đắc nữa: Mưa Mắt Tình (1968) Tâm Thu Kinh (1970) Tuyệt Huyết Ca (1972) Thi Thiên (1973) Trúc Biếc (1974) Lửa Và Hoa Bên Bờ Năm Tháng Hai Ngàn (bản thảo 2000) Thơ Tình Và Tình Thơ (bản thảo, 2002). Chẳng khác chi Bùi Giáng, Hàn Mặc Tử, anh cũng say thơ, mê thơ, điên thơ đến nỗi thành Vấn Nạn Thi Ca:

 

“Đã lòng mây trắng trời xanh

Sao còn dội ngược dồn quanh hỡi người

Trăm năm một cuộc đi đời

Là khi lá thốt hoa cười nghe ra”

 

3. Thi Sỹ Là Chi?

 

Nghe được hoa lá, cỏ cây, mây gió, trăng sao, đất đá nói cười là anh đã tự nhiên như nhiên trở thành một thi sỹ rồi. Nhưng Thi sỹ là chi? Hàn Mặc Tử nói:

 

“Thi sỹ rơi xuống cõi đời bơ vơ, bỡ ngỡ và lạ lùng. Không có lấy một người hiểu mình…Tôi đã sống mãnh liệt và đầy đủ. Sống bằng tim, bằng phổi, bằng máu, bằng lệ, bằng hồn. Tôi đã phát triển hết cả cảm giác của tình yêu. Tôi đã vui buồn, sướng khổ, giận hờn đến gần đứt sự sống.”

 

 Còn Đặng Tấn Tới thì khơi vơi cho biết Thi Sỹ là:

 

“Những hồn thi sỹ đâu đây

Bao la vô trú bên mây gió ngàn

Sử sầu đôi thế kỷ tan

Tâm thanh lặng nở lan tràn thơ ca

Chim bay lấp lánh dương hòa

Những lòng thi sỹ chưa ca nửa lời”

 

Chúng ta hãy lắng nghe Đặng Tấn Tới nói về Thơ:

 

“Thơ đi qua những Hội Mùa cùng ánh sáng lừng vang bước đất.

 

Thơ còn nói lên Hình của Bóng, Tình của Mơ, Mộng của Chân. Thơ chẳng ngừng soi tỏ Khối-Tình-Chung-Muôn-Thuở, thường khi đi trước vang sóng của Không-Thời, nâng cao vũ trụ vào thanh khí, truyền hơi nồng ấm đến tận nhân sinh.

 

Bao năm rồi, bấy nhiêu tinh tú sáng soi những trời thơ mới lạ, kỳ diệu thay Sức-Chứa-Không-Gì-Cả!

 

Trời Thơ là gì? Đất Mộng ra sao? Chân Thơ Mộng vẫn còn đi khắp? Chính nét Đẹp Thật bao dung hơn nửa Vô Cùng.

 

Thơ buồn hay thơ vui giữa khoảnh khắc đất trời mà kẻ nhớ Hạt-Bụi-Đường-Đi còn thơ thẩn bước.

 

Giấy mực ơi! Lá cỏ xa trời

Một hôm nào ta hết thở chơi

Mùa thu thơ tràn theo gió nhớ

Lang thang qua mặt đất không lời”

 

4. Mưa Mắt Tình - Cơn Mưa Diệu Ảo Qua Vườn Chiêm Bao

 

“Một hôm nào ta hết thở chơi.”Ý thức rằng mình đang lưu trú gần bên cái chết, kề cận với cái chết nên dốc hết sức bình sinh để sống từng giây phút và sáng tác giữa mưa nắng, gió bụi trần gian...

 

Lang thang giữa “Mùa thu thơ tràn theo gió nhớ”nhà thơ vô tình làm rơi xuống giữa hư vô, sa mạc cuộc đời cơn Mưa Mắt Tình:

 

“Tôi cũng biết trời bây giờ đỏ lắm

Cây đón đường hỏi tôi

Em lạ bởi tôi không cười nói

Trời ơi! Lẽ nào em thương tôi!

 

Cơn mưa đó tôi có rồi

Mà ngày trước em thường bảo buồn không xiết kể

Cây bờ sông hàng mé nước

Nhốt hồn tôi giữa những thân xiềng

Tôi nằm gặm cát sờ cây khóc

Thì ra cây là mây đậu nhánh tay

 

Nước xô hồn hoa lau dậy

Làm tình với tôi

Chiều mất rồi

Trên đồi

Mưa đồi tôi hay đồi em

Mặt trời tối”

 

Mặt trời sẫm tối, hoàng hôn xuống rồi, không còn phân biệt mưa đồi em hay mưa đồi tôi mà chỉ biết rằng mình đang chìm trong cơn phiêu hốt giữa Mưa Ngọn Chiêm Bao:

 

“Hát mộ khúc thu mưa, nhỏ lệ giọt buồn một mình. Trời tháng 4 hay mùa tháng 7, nhạc mưa hay máu nắng chết cuối mắt nâu?

 

Tóc em bay tạt điệu tiêu sầu, lũng cỏ hoang xiêu bước lạnh. Rụng một ngôi sao môi đau vết sáng, giọt nến hồng đêm tôi ngủ trên tay, chờ em hiện về mà cơn gió nào tạt mưa chiêm bao?

 

Tôi hát một đoạn nhạc rời, thắp điếu thuốc sau cùng, chờ em bên đường lá ướt...”

 

Chờ em hay chờ nàng thơ đến, bên đường lá ướt đầy những cơn mưa dầm đẫm lệ, đầm đìa nỗi cô đơn, hiu hắt, lặng thấm cả 39 bài thơ tự do trong thi tập Mưa Mắt Tình. Thuở[A1]  đó (1968) thi sỹ mới 25 tuổi đời nên chới với những bước đi còn chênh vênh giữa đôi bờ mộng thực...

 

5. Mộng Thực Lướt Rung Trên Cung Cầm Tâm Thu Kinh

 

Thực mộng bồng phiêu giữa muôn chiều  du lãng trong thế giới mênh mang của thi ca sâu lắng Đặng Tấn Tới. Mới lạ chất thơ lẫn chất nhạc cùng hòa khúc cung cầm Tâm Thu Kinh:

 

“Thu dầm âm nguyệt

Thu tâm băng tuyết

Ta thổ huyết trăng

Ngập thu tang trắng”

 

Đó là Thu Tâm, bài thơ mở đầu thi tập Tâm Thu Kinh. Rồi trải dài qua 60 nốt nhạc vang âm đến nốt cuối cùng là Gánh Thu Phong:

 

“Quải rộng thu phong

Lên ngàn cô vọng

Ngã trong ngô đồng

Lạnh dồn thu không”

 

Bước đi của thi ca đã đến chỗ “Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm” rồi. Đến chỗ này thì chúng ta cũng mù mù, chập chờn theo cho vui, chứ không cần phải rõ ràng chi cho lắm. Hãy cùng lắng nghe tiếng vọng tuyệt mù Tình Không:

 

“Thu ơi! Đừng trỗi điệu đàn

Cung tiên thiều cũ trăng vàng bên sông

Loạn màu ố máu ồ bông

Lá ngô đồng lấp tình không thu nào”

 

Tình Không là vậy đó, còn Kinh Không là đây:

 

“Thu vân

Bất tận

Thu phần

Tử tận

Tận Vô”

 

Giữa Bất tận...Tận vô...bỗng hoát nhiên, thi nhân bừng Chứng Ngộ:

 

“Nhìn suốt vừng trăng

Quên mất vừng trăng

Đi đến vừng trăng

Không thấy vừng trăng

Tịnh tưởng ánh trăng

Màu trăng không còn”

 

Không còn màu trăng, chỉ còn Thu Máu Hồng:

 

“Ôi biết bao giờ em đến đây

Mùa thu gầy guộc với hai tay

Ôm không hết đất trời vô vọng

Lòng chết trần ai gãy tháng ngày

 

Thôi nhé! Là thu lề tóc cũ

Là thôi men rượu bốc trăng mù

Cũng thôi từ lúc lòng lay nhẹ

Hương phấn thu vàng ngang liễu thu

 

Mai tôi về người có theo không?

Bụi mê tang chế bước phiêu bồng

Tôi còn thở mộng vào thu máu

Hồn của ngàn thu hiu hắt bông”

 

Tâm Thu Kinh gồm 61 bài thơ chập chùng ẩn ngữ như thế. Đọc thơ là để cảm chứ không cần phải hiểu, như tác giả đã nói:

 

“Hầu hết thơ trong Tâm Thu Kinh là những Sầu Kinh Ca vọng về Em Ma quá mộng và là máu của thiên thu về tụ dồn nhật nguyệt, vỡ hàn huyết tuyệt mùa, lùa điêu linh chìm cõi cho tan nát tang hồn, vùi chôn thể phách. Tất cả chúc hoài xuống một bi thu phù mộng bông máu mê đường, trải qua vô lượng thu huyết lũ. Từ đó xương máu rung lên lời kinh tàng tịch, ngút ngàn sâu thẳm tâm thu.”

 

6. Tuyệt Huyết Ca Hòa Âm Thấm Hồn Vạn Đại

 

Tiêu Dao Du là khúc hát tự do, tự tại của Trang Tử, Thảo Am Ca là bài ca đã về đã tới vườn tâm thanh tịnh, an yên của Thạch Đầu Hy Thiên hay Phóng Cuồng Ca là khúc hát tiêu sái, thoát tục của Tuệ Trung Thượng Sỹ và đặc biệt  Tuyệt Huyết Ca của Đặng Tấn Tới cũng hát vang lên tiếng lòng thiên cổ, hòa âm theo các bậc tiền nhân trên thể điệu bi hùng cùng tuyệt:

 

“Lòng ơi! Mở từng trang tuyệt huyết

Đưa nhau về bến nguyệt vườn sương

Mang mang cát bụi lên đường

Những xương máu cũ phai hường là đâu?

Trăng cổ độ ố màu tang hải

Trải thu phần quan tái vài bông

Nao nao gió giục sang hồng

Rụng bao nhiêu cánh giữa lòng nhân sinh

Nay buổi hội trời xanh sắc lá

Ta cũng sầu mở quá độ chơi

Ghé trong mây trắng môi cười

Một xe cát bụi xô người ra đi”

 

Xô người ra đi về đâu trong cõi đời mang mang mờ mịt, để cho Ôn Như Hầu sầu ca bi thiết về phận hồng nhan, thục nữ phải rơi vào hoàn cảnh éo le, ngậm ngùi đến não nùng trong Cung Oán Ngâm Khúc.

 

 Rung cảm theo Ôn Như Hầu, hồn thơ Đặng Tấn Tới cũng chuyển sang tiết điệu se lòng song thất lục bát, nhưng Tuyệt Huyết Ca tuy cũng sầu khúc nhưng thăng hoa lên cung bậc tân kỳ, mỹ cảm, hàm dung khổ đau và hạnh phúc, giọt lệ và nụ cười lấp lánh, long lanh hơn:

 

“Em phai máu điều Lan Lý Huệ

Lạc mê đồ gót xế phần ma

Sương phồn nội phấn nhìn ra

Ngàn xanh xa ngút bóng tà nhân gian

Ta dừng lại bên đàn Lưu Huyết

Rót linh hồn xuống huyệt trăng khơi

Hãy ra chơi Cõi Ngoài Trời

Những anh hồn cũ bên đời lưu linh

Nghìn thu trước ai tình xanh mắt

Nghìn thu sau hiu hắt hồn hương

Cùng nhau về tụ đầu sương

Long lanh chút mộng cuối đường tài hoa”

 

Thi sỹ thấu thị nhân sinh, có con mắt: “Nhìn xuyên sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời” như đại thi hào Nguyễn Du, nên đồng cảm nỗi khổ niềm đau thống thiết của kiếp con người, của thập loại chúng sinh, những hào sỹ hùng tâm tráng khí, những tài hoa trác tuyệt xưa nay:

 

“Ai bước vội bên ngàn gió thẳm

Ai buồn lay trên dặm lau khô

Lênh đênh ngoài biển nhấp nhô

Và ai trên nẻo mơ hồ hàn giang?

Người vưởng vất tận hang cùng cốc

Kiếp lạc loài oan khốc kêu sương

Máu khô thịt nát bên đường

Rợn màu tinh huyết đò dương đắm chìm

Phơi xương trắng ngoài đêm cát lạnh

Vùi đó đây từng mảnh thân non

Đất bay đá chạy chi còn

Bi thương cổ lục héo mòn tân thanh”

 

Sầu khúc thê lương, rờn rợn máu, nước mắt rồi cũng phôi pha và trôi qua nghìn mùa lao đao khổ đế, để phục hồi trên mặt đất hoang tàn những đóa hoàng hoa rực rỡ, bừng lên ánh nắng reo vui, chim cá ca ngâm giữa mênh mông sông núi rạng ngời:

 

“Vui lăn lóc theo bầy chim cá

Ca ngâm tràn lan má liên môi

Bao nhiêu thị vọng quy hồi

Còn trong biển lục chỗ ngồi nước xanh

Xa xăm quá tinh thành sao tới?

Hỡi người ơi vời vợi sầu thương

Chiêu ca một độ lên đường

Gọi hồn vô trú du phường trăng chơi

Non nước cũ rạng ngời sông núi

Trời trong xanh muôn tuổi thơ ngây

Nước trôi mây cuốn chưa đầy

Ngày sương nắng biếc hồng rây ánh vàng”

 

“Trời trong xanh muôn tuổi thơ ngây” là một câu thơ xuất thần, chứng tỏ thi sỹ đã thấy ra cái tinh túy, cốt tủy của thi ca. Thấy được như thế, nên thơ về mở lễ hội hân hoan đón mừng Nàng Thơ hay Người Em Nguyên Thủy mà bấy lâu nay mãi hoài trông ngóng, đợi chờ mong:

 

“Xưa lễ hội mơ màng nghiêng bóng

Bao nhiêu chiều ước vọng chưa xanh

Nay ta mở hội lá cành

Người em Nguyên Thủy đạp thanh phương nào

Về đây ngát sương sao dạo khúc

Đàn tơ xanh phổ lục từ bi

Cỏ cây bến rạng lâm ly

Trăng hoa một độ xuân thì mang mang

Mây gió nổi trôi ngàn bước mộng

Bàn chân không lùa sóng vô biên

Ta đi dạo khắp cõi miền

Này là phố thảo kia triền xóm hoa”

 

Với cây đàn Trí tuệ tương tri, thi sỹ dạo lên những tình khúc Từ bi tri ngộ đầy sáng tạo, vào ra suốt sớm trưa chiều vang  tận “Chín từng thanh khí chói lòa hào quang.” Trong bầu không khí kỳ diệu, chiếu sáng, lấp lánh ánh thanh tân của buổi hồng hoang, khai thiên lập địa ấy, ta với người, anh với em hồi sinh trong buổi bình minh của nhân loại “Ôi trái đất còn non không tuổi. Lòng ta vui như núi long lanh.” Hạnh phúc nhất là được cầm bàn tay em cùng: “Đi về một mạch đường thanh” rất thong dong, thân thiết:

 

“Nghiêng đôi nhánh liễu dương làn tóc

Hé đôi môi hồng ngọc bờ hoa

Mắt soi dịu ánh dương hòa

Chín từng thanh khí chói lòa hào quang

Trang tái thế trần gian mới mở

Ta với người hồn vỡ nguồn cơ

Mới hay trăng nước đường tơ

Từ xưa reo sáng trong giờ hồng hoang

Ôi trái đất còn non không tuổi

Lòng ta vui như núi long lanh

Đi về một mạch đường thanh

Bàn chân tân ước bước xanh da trời”

 

Tuyệt Huyết Ca là bản trường ca đầy chất nhạc và thơ, xuất hiện trên thi đàn Việt Nam vào khoảng năm 1972 gây xôn xao giới văn nghệ sỹ thời bấy giờ, bởi tiếng thơ xuất thần rung ngân thật độc đáo. Đấy là thời kỳ văn nghệ Miền Nam rực rỡ nhất với những thi sỹ thượng thừa như Bùi Giáng, Phạm Công Thiện, Nguyễn Đức Sơn, Hoài Khanh, Phạm Thiên Thư, Tường Linh, Trần Xuân Kiêm, Huy Tưởng, Nguyễn Tôn Nhan, Phù Hư, Tô Thùy Yên, Thanh Tâm Tuyền, Viên Linh,  Nguyễn An Đình, Trần Tuấn Kiệt, Trần Đới, Nguyễn Bắc Sơn... Nhà văn Mang Viên Long, bạn thân thiết Đặng Tấn Tới đã viết một bài bình luận dài về thi phẩm này:

 

“Thi phẩm Tuyệt Huyết Ca gồm 27 đoạn thơ song thất lục bát, tất cả 108 câu thơ, chung quanh một nhan đề chính đã được chọn. Sử dụng lối thơ cổ truyền Việt Nam để diễn tả những khúc ca máu hồng tuyệt vời của dân tộc.

 

Đặng Tấn Tới đã dồn hết rung cảm tích tụ kỳ diệu bao năm  giữa “ Trăng cổ độ ố màu tang hải. Trải thu phần quan tái vài bông” trong cảnh tượng đời sống ghê khiếp như ma quái “Người vất vưởng tận hang cùng cốc. Kiếp lạc loài oan khốc kêu sương” vào thời gian được ghi nhận là biến loạn nhất trong hai mươi năm chinh chiến...”

 

Điệu vần song thất lục bát cổ điển mà viết  tuyệt hay, truyền đạt được sự rung cảm tận tâm hồn sâu thẳm như thế này, duy chỉ có tài hoa, thi sỹ thượng đẳng Đặng Tấn Tới mới viết được mà thôi, như Tơ Vui:

 

“Tiêu dao dạo qua đồng bông trắng

Rạng hồn thâu đời nắng lừng vang

Lá hoa rung lại đôi hàng

Nghe triều thiên nhạc dâng tràn cao xanh

Vang vang tận mong manh làn gió

Trầm trầm xô ngàn cỏ sau sương

Ruổi rong chín nẻo lạc phường

Giang hà ơi một thoáng hương mơ hồ

Ta cũng đủ tung hô vạn đại

Ta cũng đành vin hái tơ vui

Trao ai đóa sáng ngậm ngùi

Một hôm trời đất ngủ vùi trên tay

Trong nửa chớp đầu mày cuối mắt

Trăm muôn đời lặng ngắt sau non

“Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn

Tào Khê nước chảy hãy còn trơ trơ”

Hôm trẩy hội trao bờ một lá

Còn hôm nay màu má như mơ

Đêm đêm sương trắng sang bờ

Làm sao ta biết được giờ nào vui

Lòng trong hội trong vùi trong tịch

Đời trong đời ngấn tích phiêu nhiên

Nước trong nước bước vô biên

Tay trong tay nắm một miền tuyệt không

Vườn mây lộng mênh mông sương tụ

Suối xanh reo thường trụ xuôi ta

Non thiêng nước biếc đâu là

Chân vui đạp dặm hồn hoa mở dồn

Thâu tất cả càn khôn một ngáp

Cười mang mang vạn pháp đầu sương

Đất thơm ta hãy lên đường

Máu reo bát ngát trùng dương tinh huyền[A2] ”

 

7. Khai Mở Nguồn Thơ Tuyệt Mỹ Thi Thiên

 

“Ta cũng đủ tung hô vạn đại

Ta cũng đành vin hái tơ vui”

 

Vâng, thi sỹ lang thang qua mặt đất không lời, không nói năng chi. Chỉ im lặng, vô ngôn để cảm nhận trọn vẹn, thấu triệt tuyệt đối cái linh khí của vũ trụ và nhân sinh, cái tinh túy thi ca Chân Thiện Mỹ, cái nguồn mạch tâm linh thần cảm, chạm mặt hạnh phúc lẫn khổ đau, thấu thị lẽ đất trời...

 

Thời kỳ đó, anh có đi dạy học trường Bồ Đề Đập Đá tại quê nhà Bình Định một thời gian, lập Thư Quán Hoàng Hạc để mưu sinh. Lấy Trang Tử, Lão Tử, Kinh Dịch, Kinh Phật, Thiền làm sách gối đầu giường. Anh dầm mình trong thế giới Thi ca Tư tưởng, kết bạn với các Thiền sư, đạo sỹ, ẩn sỹ Đông phương, dạo chơi với các triết gia, thi sỹ, nhạc sỹ, họa sỹ Tây phương...

 

Đồng thanh tương ứng, anh tiêu hóa rất nhanh và biến thành máu huyết, tinh túy rạt rào, trào tuôn trong lòng rỗng rang của anh...Để từ đó mà dấn bước trên con đường thênh thang sáng tạo, khai mạch suối nguồn Thi Thiên, mở ra cảnh giới vô ngần Bất Tuyệt:

 

“Ngồi bên hương ngát trang đời

Mở vài bông vắng lặng trời lâm ly

Bao la bến cỏ xanh rì

Niềm vui trút mộng ra đi phương nào

Bước trong buổi hội tâm bào

Nghe xương máu vọng tơ đào nguyên xưa

Thời gian thôi chẳng bao giờ

Trần gian bất tuyệt bây giờ là đây”

 

Bây giờ là ở đây, là thực tại hiện tiền. Cái thực tại mà Krishnamurti gọi là cái Đang là luôn luôn mới lạ, cái sát na vĩnh cửu. Thi sỹ nhắc nhở chúng ta hãy sống trọn vẹn, chú tâm vào cái Đang là này trong từng sát na, từng hơi thở để nghe Nhạc Trời:

 

“Đời vui ta cũng ra đi

Một chiều ngất hạn bên ly sóng trời

Xanh xanh một sớm vườn chơi

Tạ màu hoa cỏ bên người bao dung

Trao vào mộng thắm không trung

Gởi sầu tro bụi vô cùng thời gian

Ta đi chẳng đến trên đàng

Lá xanh ngần mãi tơ ngàn ngao du”

 

Đó là cuộc đi, cuộc lữ trong cõi giới Nội Tâm, cuộc ngao du, phiêu bồng giữa vườn Lòng mênh mông của thi sỹ, theo thể điệu Henry Miller:

 

“Chỉ có một cuộc phiêu lưu vĩ đại nhất mà thôi, đó là đi vào bên trong tâm hồn sâu kín, thăm thẳm trong lòng mình và đi vào giữa lòng mình thì thời gian, không gian, ngay đến hành động cũng không quan trọng chi cả.”

 

Đi mà không chỗ đến là bước đi kỳ cùng ngay giữa thực tại của chàng trai Ngoài Ba Mươi Tuổi Vui Chơi:

 

“Ba mươi mấy tuổi bây giờ

Mất đi thơ dại chẳng ngờ về đâu

Sầu chung chưa ráo máu đầu

Đứng đi lênh láng trang màu thanh thiên

Một năm mở mấy cuộc điên

Một đời bày mấy trận tiền biển dâu

Trăng sao chơi với thương sầu

Đường xưa im bóng đọng màu tà huy

Gió mây thao thiết mộng gì

Ngoài ba mươi tuổi bước đi không cùng

Hẹn hò trong hội vô chung

Câu thơ sẽ thở lên khung trắng hồn”

 

“Một năm mở mấy cuộc điên” cho vui, vì cuộc điên ở đây là thể điệu phiêu nhiên điên chơi theo kiểu Thơ Vô Tận Vui Bùi Giáng:

 

“Anh điên mà vui vẻ thập thành

Còn các em tỉnh táo mà đành buồn thiu”

 

Đặng Tấn Tới cũng có máu điên điên như Hàn Mặc Tử:

 

“Bây giờ tôi dại tôi điên

Chắp tay tôi lạy cả miền không gian”

 

Điệu vui vẻ, rỡn đùa, điên chơi với nàng thơ trinh trắng “Hẹn hò trong hội vô chung” giữa tuế nguyệt man thiên, tuyệt cùng phương nao kỳ ngộ Bao La Kim Cổ:

 

“Năm nay mùa cỏ xanh tươi

Vui về bên núi em cười sau nương

Đêm đêm trăng sáng nẻo thường

Hồn thơm lá cỏ du phường sương hoa

Bao la kim cổ môi òa

Cùng ta hợp hội tấu hòa thiên nhiên”

 

8. Như Bùi Giáng Nhập Hoan Hỷ Địa

 

Giữa trời trăng sao muôn thuở, thi nhân cùng nàng thơ “Vui về bên núi em cười sau nương” thật vô cùng đẹp đẽ. Một vẻ đẹp như thơ như mộng, bồng tênh sương khói ảo huyền, thiết tha cùng muôn loài vạn vật hòa âm trên cung bậc ngân rung vô lường Thương Cảm:

 

“Trời xanh xanh thẳm nơi đâu

Hồn xanh xanh bất tuyệt màu thời gian

Nghìn năm mây trắng dư vang

Giọt sương thương cảm lạnh tràn hư không”

 

Một niềm thương cảm giữa “Hồn xanh xanh bất tuyệt màu thời gian” đó, thi nhân bất thần nhập vào cảnh giới Hoan hỷ địa như Bùi Giáng nên nhảy múa hát ca Ta Vui:

 

“Sáng nay nằm giữa gió vàng

Hoa lá cỏ đỏ xanh tràn vườn không

Tâm ơi mấy sợi mây hồng

Đưa ta đến bến phiêu bồng chờ mong

Máu phai còn lại mấy dòng

Ta vui cạn rót xuống lòng bao la”

 

Trận hân hoan vang dậy tiếng cười ngây ngất giữa nhân sinh trường mộng, không còn phân biệt đây là thực hay mộng, nên thi nhân lịm hồn Chiêm Bao Trời Đất:

 

“Hỡi ơi! Trái đất chiêm bao

La đà sự thật trăng sao trên trời

Hay là mặt đất đùa chơi

Núi cao ngây ngất trận cười tràng giang”

 

Trận cười tràng giang, đại hải vang dài hòa chan, trộn lẫn vào cuộc thơ, cuôc mộng, cuộc hư huyền  huyễn hóa hay cuộc chiêm bao mơ màng chi chi đi nữa, đối với thi sỹ thì tất cả đều diệu dụng, dung nhiếp một cách Nhiệm Mầu:

 

“Ca ngâm nhạt sắc cầm chương

Sóng thu vàng chảy phấn hương ra nguồn

Lạnh trời phơ phất tiếng chuông

Bờ hoa lá cỏ phai buồn sóng xanh

Người về quê trắng tan canh

Bàn chân vân bước qua ngành biển dâu

Lửa hương trao gió nguyện cầu

Đóa lòng thanh lặng nhiệm mầu ánh vui”

 

Khi thấy được “ánh vui mầu nhiệm” là tâm hồn thi nhân đã huyền đồng cùng Lòng Vạn Vật, Tâm Đất Trời, rực ngời ánh sáng lẽ thật Chân Như và hoát nhiên bừng tỏ ngộ cảnh giới huy hoàng, mới lạ Hoa Nghiêm giữa thiên thu vạn đại diễm tuyệt Huyền Nhiên:

 

“Không còn mây đâu còn đây

Đi trong vạn đại giữa giây sấm huyền

Bước vui bỏ hội thôi thuyền

Lên Đồng Tâm rạng ánh truyền Chân Như

Ra về biệt dạng thanh hư

Trăng trong sóng lộng môi cười viên dung”

 

Viên dung là viên mãn, một trạng thái trọn vẹn, tròn đầy nên hồn nhiên reo cười dưới trời trăng trong sóng lộng và cùng hát bản Bát Nhã, ca khúc Đại từ Tâm:

 

“Lá hoa chớp lộng không thì

Sáng bao la đóa huyền vi tâm vàng

 

 

 

9. Thấy Trong Bọt Nước Chở Màu Thiên Thu

 

Chỉ một chữ Tâm thôi mà thiên kinh vạn quyển từ xưa đến nay, diễn giải chưa xong. Muốn hiểu được Tâm là gì, chúng ta phải đọc lại toàn bộ kinh điển Nguyên Thủy, Đại Thừa...Thôi thì, ở đây thi sỹ chỉ cần cảm nhận Thu Vô Cùng:

 

“Xôn xao nắng bướm qua cầu

Dưới sông bọt nước chở màu thiên thu”

 

Thấy được màu thiên thu trong một bọt nước là một cái thấy của con mắt Thiền, đã trực ngộ được cái mà thi sỹ Wiliam Blakrle đã từng thấy:

 

“Thấy thế gian trong một hạt cát

Và bầu trời trong đóa hoa rừng

Nắm vô biên trong lòng bàn tay

Và vĩnh cửu giữa giờ phút trôi”

 

Thi sỹ Đặng Tấn Tới một lần kia hoát nhiên thấy được “Dưới sông bọt nước chở màu thiên thu” là thấu rõ chân lý Nhất nguyên, Bất nhị, Phù du là Vĩnh cửu, Sát na là Thiên thu, Một là Tất cả mà trong Thiền tông thường hay nói đến. Cho nên, từ đó nhìn toàn thể cuộc đời đều cảm nhận ngây ngất trước Vô Biên Môi Cười:

 

“Sương rơi ngời rạng mãn thiên

Mấy trường đình lộng vô biên môi cười

Bây giờ ngây ngất trận chơi

Nói cười giữa cuộc con người lá lay

Khôn hàn vàng bước thu bay

Đi vào trùng ngộ lộ bày bạch vân

Bước ra một bước tần ngần

Cuối đường kia đã có lần phôi pha

Non phơi ánh bạc giang hà

Buồn theo mây nước ướt tà mắt xanh”

 

Thấy được chân tướng “vô biên môi cười” nên “đi vào trùng ngộ”  cái bản lai diện mục của mình rồi. Vì thế,  thi nhân thanh thản Về:

 

“Ta về ngọn cỏ reo xanh

Bến thành mây dựng long lanh nước trời

Tay lùa vô lượng thơm tươi

Chân vui mở lối đưa người bao la

Hồng trần thoảng giấc hương qua

Một hơi thiên cổ lạnh nhòa thu không”

 

Trên đường trở về, sau cuộc lữ phiêu bồng, còn nghe vang vọng những bước Hành Ca:

 

“Ba mươi mốt tuổi vui chơi

Theo trời đất mộng con người mang mang

Trăng đi đâu hết con đàng

Gió xanh chưa thổi cuối làn vi vu

Máu không không cả hư phù

Ai trong giọt giọt dòng thu tiếp dòng

Lượng trời mây nước tươi trong

Ta yêu không cả những lòng mai sau”

 

Bước độc hành ca vẫn đi theo nhịp điệu phiêu nhiên lục bát giữa đôi bờ sinh tử, hát khúc nhạc tương ngộ, tương tri Thi Thiên:

 

“Một mùa trái đất xanh xanh

Chở ta đi dạo mấy thành lửa mây

Thả thơ thanh thảo lừng bay

Trao về Tri Ngộ đôi ngày trần gian

Gởi qua Sinh Tử hai hàng

Bây giờ lục bát vỗ tràn lục ba

Đất trời hội mới gieo hoa

Cảo thơm lá cỏ mở tòa thi thiên

Bước chân vân thủy lên miền

Tiêu dao du xứ như nhiên phiêu bồng”

 

10. Trúc Biếc Miền Tiêu Dao Vô Sở Trụ

 

“Bước chân vân thủy lên miền

Tiêu dao du xứ như nhiên phiêu bồng”

 

Phiêu bồng qua chơi bên miền Trúc Biếc cõi Tiêu dao du theo cuộc lữ Vui Chơi:

 

“Giữa đời chơi cuộc lữ

Đầy vơi lòng vui qua

Lửa thiêng huyền diệu xứ

Sáng hết mặt mày ta”

 

Giữa muôn trùng cuộc lữ, rong chơi lêu lổng, không chỗ trú cư, thi sỹ theo Trang Tử bước Tiêu dao du qua những cảnh giới huyền diệu xứ, rực ngời lửa thiêng, hiện rõ mặt mày sáng tỏ ngời chân diện mục trong cuộc Tử Sinh:

 

“Lăn hòn đất vô sinh

Vào ra lòng bất tử

Ôi nhật nguyệt vong tình

Ta còn ư! Mất ư!”

 

Mất hay còn, bây giờ đối với thi sỹ thì cũng chỉ là một cuộc chơi giữa Lòng Vũ Trụ:

 

“Vũ trụ hơi còn nóng

Lòng chưa dứt phong thi

Đất dâng tràn thanh khí

Trời vẫn thắm vô vi”

 

Trời đất tràn đầy thanh khí nên cứ mặc sức Thở Khoan Khoái:

 

“Thở khoan khoái đây rồi

Vào ra riêng có thôi

Thở tan hoang gốc ngọn

Tròn một bước xa xôi”

 

 Rồi chiều phiêu  dật đi vi vu Thu Thủy Thi:

 

“Chiều kêu trong khóm trúc

Tiếng lòng không vi vu

Sông xa tràn ánh lục

Trời rong chơi nước thu”

 

Trúc Biếc là tập thơ thứ 5 (1974) gồm 60 bài tứ tuyệt ngũ ngôn. Hồn thơ vẫn hoài trôi chảy theo suối tình yêu thương muôn thuở, mới mãi từng Phút Giây:

 

“Ta với người phút giây

Sương mai reo nắng dậy

Mới nghe và vừa thấy

Tình vạn thuở thơ ngây”

 

Tuy gặp nhau giây phút thôi nhưng người với ta đã là Tri Âm:

 

“Ngàn xa không trông được

Thấy nhau màu tâm tư

Bao la nguồn thiên tứ

Rào rạt tiếng thơ người”

 

Xa xôi hay gần gũi đều gặp nhau ở  đây, bây giờ, ngay Hiện Tiền:

 

“Thở qua hơi người mới

Hồn cũ thấy nhau đâu

Đất trời thương ai đợi

Chơi trò không trước sau”

 

Không trước, không sau, chấm dứt ý niệm nhị nguyên, vô phân biệt thì mọi vọng tưởng đều vắng lặng, đó là lúc Tan Vọng:

 

“Bao nhiêu lời chưa tới

Đưa tay gió lạnh tràn

Chứa chan lòng vạn đại

Một tiếng vọng rồi tan”

 

Khi mọi tiếng ồn ào, động tịnh, chơn vọng đều tan biến thì vạn hữu trở lại trạng thái Như Như:

 

“Rồng rắn nước non chơi

Vỗ trời xa cả cười

Mắt tàn tro vẫn giữ

Niềm thanh lặng như như”

 

Tuy như như bất động mà thi nhân vẫn Hòa Vui:

 

“Cát bụi vui hòa ấy

Cho ta tình đắm say

Còn đây lòng mở thấy

Trời xanh mây trắng bay”

 

11. Diệu Kỳ Người Em Nguyên Thủy Đi Về

 

May mắn, hy hữu thay! Người Em Nguyên Thủy hay Nàng Thơ tuyệt sắc giai nhân trong Thi Thiên, Tuyệt Huyết Ca ấy, thi nhân đã có cơ duyên diện kiến và thiết tha hồn rúng cảm từ buổi gặp đầu tiên, nên liền cảm tác làm Thơ Tình:

 

“Nắng mưa thấm đẫm tâm tình

Yêu em gió sớm vẽ hình trăng thâu

Đời thường bỗng lạ bên nhau

Ngấn sương trước sáng ngàn sau sóng cành

Yêu em hạt bụi long lanh

Con đường nho nhỏ vòng xanh đất trời

Dòng thơ trôi cuốn không lời

Là lời giây phút rót mời đang khi

Yêu em mặt đất cùng đi

Mặt trời giữa ngực thầm thì suối hương”

 

“Yêu em” là một điệp từ, dù có tụng ca đến cả nghìn lần cũng không diễn tả hết được tâm tình sâu thẳm của thi nhân dành cho nàng thơ kiều diễm, thùy mị Duy Khương hay còn gọi Thanh Ngọc Lan - Một đóa Ngọc Lan ngát hương thanh khiết, tuyệt vời của thi sỹ.

 

Yêu em mặt đất cùng đi với mặt trời, dìu nhau về ngồi bên lò Lửa Bát Quái:

 

“Ba ngàn thế giới cầm tay

Trao nhau một chiếc vòng này nhớ cho

Đời nay dẫu có lắm trò

Vẫn còn hơi ấm bên Lò Lửa Yêu”

 

Bát quái là 8 quẻ âm dương trong Kinh Dịch. Bát quái có liên quan đến triết học Thái cực và Ngũ hành, được ứng dụng trong Phong thủy, Địa lý, Thiên văn học, Chiêm tinh học...Ở đây, thi sỹ muốn nói đến lửa âm dương của tình yêu diệu kỳ đã thắp sáng bừng lên như ngọn lửa hồng, nhân ngày trọng đại, hai người làm lễ cưới nhau Mười Một Tháng Chín:

 

“Soi gương vấn tóc một mùa

Vẻ xanh còn nở hoa mưa đến giờ

Bụi trần trải hết lòng mơ

Sóng thơ bất tuyệt hôn bờ thương yêu

Nắng sương thấm đẫm bao chiều

Sớm thăng hoa cảm thấu nhiều trang khuya

Còn nhau trong bước đi về

Rượu-Bao-La đủ môi kề lượng vui

 

Em yêu cả Mộng Thơ Đời

Yêu em trẻ lại thơ ngời sương hoa

Lạnh nồng em đến cùng ta

Tiếp vui trùng cửu rượu hòa cúc hương

Ngày nào vấn tóc soi gương

Theo trang sách bước chung đường mang mang

Giờ nghe lại nhạc mưa ngàn

Lòng reo hội mới ngân vang tơ trời

Bên nhau bày sẵn mấy lời

Bồi hồi nhịp cốc hát mời tình xanh”

 

“Bồi hồi nhịp cốc hát mời tình xanh” rót tràn đầy ngày hôn lễ, đầy tràn cả nhật nguyệt, thiên thanh vào khoảng năm 1971, tại Hoàng Hạc Thư Quán giữa mùa trăng vàng An Nhơn cố xứ...

 

Ngày trọng đại đó, thi sỹ còn lưu lại bút tích:

 

11. 9 Nhâm Ngọ

Tặng Duy Khương

 

“Đã từng lúc ngọt mềm hoa cỏ

Có nhiều khi giọt nhỏ đồng tâm

Trải cơn nắng dãi mưa dầm

Chung đường vai gánh nợ tằm đa mang

 

Đời lấp lánh bụi vàng trang viết

Tình xanh còn bất tuyệt cho nhau

Nghe ra tơ tóc nhiệm mầu

Nhìn vào sáng cả cơ cầu thủy chung

 

Em nâng chén vô cùng ngang mắt

Cạn cùng nhau son sắt niềm yêu

Này đây lượng sóng dâng triều

Biển ngời chân sóng dập dìu cát vui...”

 

Đặng Tấn Tới (2002)

 

12. Thơ Tình Và Tình Thơ Cùng Nhập Diệu Phiêu Nhiên

 

Từ đó, Nàng Thơ về, Người Em Yêu Dấu đến, trên bước chân mềm mại, mãi hoài nghe dưới gót ngân vang phím đàn tri âm, tri kỷ. Dáng em đi vừa yểu điệu, dịu hiền vừa quyến rũ, du dương với bao niềm nhiếp dẫn và khơi mở con đường hân hoan sáng tạo cho thi nhân Đặng Tấn Tới. Cả thi phẩm Thơ Tình Và Tình Thơ, gồm 40 bài thiết tha, da diết, riêng tặng: “Em Thanh Ngọc Lan nghiêng soi mình đất hứa. Gánh cùng ta cả Ảo và Chân...” Thi phẩm tâm đắc này, được anh viết ngay trên từng bước song hành theo nhịp tim bổi hổi, bồi hồi Mỗi Ngày:

 

“Mỗi ngày cát bụi còn vui

Ẩn trong mắt lá cây nuôi ánh trời

Con đường viền cỏ đôi mươi

Bước chân đi đứng bỗng vơi chợt đầy

Nắng lên vẽ đậm vòng ngày

Trăng về tô mượt nét mày non xa

Em cầm ngọn lửa hồng hoa

Đêm tình gió xỏa hiền hòa tóc hương”

 

Hương tóc em ồ hương Ngọc Lan bay ngạt ngào, thơm ngát cả không gian vàng óng ả, cả Trời Xanh Tháng Chín:

 

“Thanh hồng điểm ánh sao trong

Bao la trời chở cả lòng yêu nhau

Thời gian nhẹ đến không màu

Thẳm sâu còn lộng biếc đầu nguồn xuân

Những ngày quấn quít đôi chân

Đất đưa man mác thân gần mộng xa

Em về xanh lá chim ca

Cỏ thơm nghiêng tỏa nắng hoa trông vào

Những ngày núi trước hiên cao

Tình thơ không tiếng rạt rào em nghe”

 

Em nghe rạt rào bao ngày tháng những tiếng lòng thơ réo rắt,  cao vút tận trời trăng sao huyền ảo rồi lặng trầm âm ba thư thả Tạ Tình:

 

“Yêu em hạt bụi phô trần

Giọt sương linh diệu trong ngần biển dâu

Câu thơ nghiêng cánh Phượng Cầu

Như tìm nhau thuở bắt đầu thanh âm

Cung thương dẫu trót ôm cầm

Chạnh lòng thêm nặng gánh tâm cảm này

Tạ tình chợt choáng đêm say

Với em mưa nắng những bay bổng ngày

Niềm vui rất mỏng đầu mày

Còn reo cuối mắt lá cây xanh đời”

 

Thơ Tình Và Tình Thơ quá đỗi tha thiết, quyện hòa như thế. Đẹp hơn cõi Thiên Đàng hay xứ Thiên Thai nào đó trong truyện cổ tích hay văn chương tưởng tượng...

 

Phải chăng, đó là bản tình ca diệu thường yêu thương, được sáng tác trong máu lửa và nước mắt, bởi một thi sỹ Đông phương giữa một bối cảnh lịch sử hỗn mang đầy hoang tàn, đổ nát, bị vây khổn trong cuộc chiến tranh tương tàn tương sát, tang thương đầy máu lệ...Thế mà thi nhân vẫn điềm nhiên mỉm được nụ cười tuệ trí, bi mẫn, vô ngần thương yêu và sáng tạo một cách tự tại, tự do...

 

Có ai trong chúng ta còn nhớ được điều này, như  thi hào Hoelderlin đã từng nhớ: “Con người ngụ cư trên mặt đất như một thi nhân.” Vâng, Đặng Tấn Tới quả nhiên là một thi nhân đích thực, một thi sỹ bi tráng đi về trên mặt đất trầm trọng và đau thương này, để cất lên tiếng ca chân thiện mỹ Thi Thiên, Tuyệt Huyết Ca, Trúc Biếc, Tâm Thu Kinh, Lửa Và Hoa Bên Bờ Năm Tháng Hai Ngàn đầy hào quang bi trí rạng ngời. Vâng, chỉ còn lại tiếng hát của thi nhân là bất tuyệt Thiên Thu:

 

“Trăng bạc gieo tang hồ lạnh bạc

Đường thanh như ý vân hà thanh

Nắm tay máu trút hồn xiêu lạc

Mai bước giang hồ quạnh mắt xanh

 

Em ơi! Còn có bao giờ buổi

Em của ta hề thanh thủy ba

Ôm đuối hồn đau kề chín suối

Ta nào sống được hết đời xa

 

Thôi em! Lạnh gót trùng lai ấy

Xô đẩy chi nhau đắm mái đầu

Mưa cửa thiên thu mù lá dậy

Nói cười nhưng nói được chi đâu!”

 

13. Một Đêm Nhớ Đời Với Đặng Tấn Tới

 

Giữa muôn trùng cuộc lữ, du sỹ phi vó ngựa sắt phiêu bạt giang hồ đi xuyên Việt, xuôi ngược Bắc Nam nhiều chuyến rồi. Có một chiều phiêu lãng, khoảng năm 1996, du sỹ phi ngang qua thị trấn An Nhơn, Bình Định thì trời xế bóng tà huy, du sỹ chợt nhớ Đặng Tấn Tới ở đây, nên liền tạt vô nhà thăm thi sỹ...

 

Cuộc viếng thăm bất ngờ, nhưng anh vẫn hoan hỷ tiếp đón, không phải bằng trà mà bằng rượu Bàu Đá. Nhà anh là Thư Quán Hoàng Hạc duy nhất ở vùng thị trấn xa mù ấy. Phu nhân là chị Duy Khương-Thanh Ngọc Lan dịu dàng, hiếu khách, niềm nở mời bữa cơm chiều. Đó là bữa cơm đạm bạc, tuy chỉ có rau lang luộc, cá kho và canh bầu thôi nhưng là một bữa cơm ngon tuyệt nhất trong cuộc đời du sỹ, vì cả ngày nhịn đói, nhịn khát chạy rong ruổi, lang thang khắp vùng ngoại ô Quy Nhơn...

 

Cơm nước xong, anh dẫn xuống nhà thi sỹ Nguyễn An Đình thăm chơi và tối đó, tiệc rượu Bàu Đá được bày ra ngoài sân vườn cây Sung, cùng cụng ly túy lúy cho đến tàn khuya, đúng nghĩa theo một câu thơ Tuệ Sỹ: “Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn...”

 

Vừa lai rai vừa kể chuyện Tuệ Sỹ, Phạm Công Thiện, chuyện Hàn Mặc Tử và tất nhiên chuyện Bùi Giáng. Nhắc đến Bùi Giáng thì anh cao hứng đứng bật dậy đọc thơ liền:

 

“Ông nói những điều chẳng nói sao

Có vì vui rất mực chiêm bao?

Từ năm Gia Tĩnh hai em gái

Lễ đạp hồn xanh máu đỏ trào

 

Vui rỡn lan man khắp mọi miền

Về trồng cây cỏ đọ vô biên

Hỡi ơi! Chiều gió tràn con mắt

Người múa qua đời mộng đảo điên”

 

Rồi trong cơn chuếnh choáng, anh đọc tiếp bài Rượu Trăm Năm tặng du sỹ:

 

“Rượu trời ta uống một ly

Thức rưng rưng giấc vô thì càn khôn

Rượu này ta tẩm một hồn

Men thiên thu thổi chân dồn tịch liêu

Rượu người một cốc tiểu yêu

Ôi trăm năm cháy một chiều máu ta

Em ơi! Đời ướt dương tà

Rượu trăm năm đốt hồn ma tang bồng

Một ly một thuở rồi không

Ly này ly nữa còn trông ly nào?”

 

Trào dâng một nguồn vui đồng thanh tương ứng, dưới ánh nguyệt rằm lấp lánh trong vườn trăng xanh, du sỹ cũng ứng khẩu đọc bài thơ Túy Lúy Cùng Thi Nhân Đặng Tấn Tới để đáp lễ:

 

Xế chiều ghé tạt An Nhơn

Thăm Đặng Tấn Tới ngợp hồn thi ca

Mưa Mắt Tình mát chan hòa

Thi Thiên Trúc Biếc tuyệt tha thiết tình

 

Tình thơ mở cuộc phiêu linh

Ta xin cạn chén rượu Bình Định say

Tuyệt Huyết Ca quá mộng đầy

Một đêm trọn vẹn bắt tay ân cần

 

Rượu Bàu Đá quá lâng lâng

Vài ly thôi đủ xuất thần trí khai

Hết lòng hết sức cảm hoài

Tâm Thu Kinh cảm hồn lai láng hồn

 

14. Lửa Và Hoa Bên Bờ Năm Tháng Hai Ngàn

 

Hai nghìn năm đằng đẵng vèo qua trong chớp mắt. Vào khoảng năm1998, anh Đặng Tấn Tới bị bệnh nan y, phải vào Sài Gòn chữa trị. Vì phải thường xuyên khám bệnh, nên phu nhân anh đưa anh vào Sài Gòn ở với các con, để thuận tiện cho việc chữa bệnh. Thế là anh chị đành giã từ vườn Bonsai, giàn Phong Lan và Thư Quán Hoàng Hạc ở quê nhà với bao nỗi sầu ca, ngậm ngùi... Tuy căn bệnh trầm kha đã đến gót chân rồi, nhưng hồn thơ Đặng Tấn Tới vẫn chất ngất tận đến Ngày Sau:

 

“Đi vào mây nước thẳm

Còn hạt cát vu vơ

Ngày sau ai nắm được

Cảm thật đến ban sơ”

 

Ở đây, thơ chuyển sang cung bậc Thiền. Mỗi thân phận người là một hạt cát vu vơ thôi. Rồi tùy theo duyên nghiệp mà trôi chảy, bay qua muôn trùng nhật nguyệt, thiên địa giữa trùng trùng duyên khởi mà “Đi vào mây nước thẳm.” Để  ngày sau hay ngàn năm sau nữa, tái sinh lại làm người, có nắm được, cảm được cái thuở ban sơ, cái nguyên ủy tự bao giờ? Thơ thiền chỉ nêu ra, gọi ý, hiểu sao cũng được mà không hiểu thì cũng là Thơ:

 

“Câu thơ

Thở hơi thiên cổ

Có gì đâu”

 

Có chi đâu phải không, vì bước đi của thơ là Đường Vui:

 

“Đi dạo

Quên ráo

Đường”

 

Đường không đường, không lộ. Đó là diệu pháp của Đạo hay Yếu Nghĩa:

 

“Trời sao

Chẳng là gì

Đạo”

 

“Đạo khả đạo phi thường Đạo” Lão Tử đã nói thế. Krishnamurti thì phát biểu dễ hiểu hơn:

 

“Cái mà Phật gọi là Niết Bàn, Chúa gọi là Thiên Đàng, chính cái ấy tôi gọi là Cuộc Sống.

 

 Cuộc Sống không gì tốt đẹp hơn là Tình thương. Người có Tình thương mới thực là m Đạo, vì Đạo chân chính, không dựng trên tín ngưỡng, giáo điều. Người có Tình yêu thương mới thực có Đạo Tâm, dù thương một người hay thương nhiều người. Tình thương là cái hiện tiền, cái tột cùng, cái không thể đo lường được...”

 

Tình yêu, Tình thương là điệp khúc, là bản trường ca miên viễn, bất tuyệt của thơ mà sứ mệnh người thi sỹ sáng tạo phải giữ gìn, xiển dương, làm cho phục hồi, sống dậy mãnh liệt, ý lực bừng lên huy hoàng, sáng suốt, tuôn trào vô lượng, vô biên...

 

Hãy đốt hồn thơ thiêng liêng, cháy rực ngời ngọn lửa cảm xúc, rung động thiên thu, để nghe nhịp thở bồi hồi giữa bầu khí hậu thanh tân, phấn chấn, hân hoan, yêu đời trong tiếng hát Đại bi tâm, như thi sỹ Saint John Perse phát biểu, trong buổi lễ tiếp nhận giải Nobel, năm 1960 tại Thụy Sỹ:

 

“Người thơ đã có trong con người ăn lông ở lỗ, người thơ vẫn sẽ có trong con người thời nguyên tử, vì người thơ là một phần tử bất khả phân của con người. Chính từ sự đòi hỏi của Thơ, của Tâm, làm phát sinh tôn giáo và nhờ duyên thơ mà tia lửa thiêng sống mãi trong khối đá người. Khi mọi thần thoại sụp đổ hết thì Thơ là chỗ ẩn cuối cùng của cái tối linh.”

 

Cái tối linh, tối thượng đó chính là nơi chốn mà thi sỹ Đặng Tấn Tới đi về thở nhẹ khói vô vi, khi thấy Đạo nằm ngay trong đời sống thường nhật...

 

Thơ thiền là vậy, gợi ra cả một thế giới mênh mông trong một hạt bụi, trong một giọt lệ, một nụ cười hay trong một đóa hoa Thược Dược mà nhà thơ  Quách Thoại đã thấy:

     

“Đứng yên bên hàng giậu

Em mỉm nụ nhiệm mầu

Sực nhìn em kinh ngạc

Vừa thoảng nghe em hát

Lời ca em thiên thâu

Ta sụp lạy cúi đầu”

 

Chỉ một đóa hoa thôi, qua cái nhìn của thi sỹ thì quá mầu nhiệm như thế, huống chi là thấy một con người phải không? Đặng Tấn Tới cũng biết như vậy, nên rất trân trọng những giây phút Còn Nhau:

 

“Chút lòng trong cát bụi

Sáng ngoài hương cỏ cây

Đêm trăng tơ mền núi

Ta còn nhau ngắm mây”

 

Biết còn bên nhau ngắm mây, nhìn trăng, uống trà là còn cảm được Trời Đất Như Thơ:

 

“Không đề trang tịch mặc

Vút cánh thu long lanh

Suối để trời trong vắt

Lòng thơ đâu nước xanh”

 

Thanh thản, an nhiên, cảm xúc thực sự trước lẽ sinh tử là Chút Lòng Đây:

 

“Cuộc đau chưa dễ hết

Tình vui còn phút giây

Chén hương màu thấm máu

Khuya sớm rõ lòng đây”

 

Một chút lòng Chợt Cảm với thi sỹ Huy Tưởng:

 

“Rì rì rêu miết lạnh

Lặng lặng trăng mài xa

Giữa lòng treo núi quạnh

Nóng một bầu mai hoa”

 

Tha thiết với Nguyễn Tôn Nhan, Ngàn Mây:

 

“Trắng trưa trời cố quận

Bước qua lòng sang đâu

Thấy nhau làn mây chuyển

Ánh lộng nước không màu”

 

Và đặc biệt hơn nữa, bài Gởi Về Thành Gia - Tặng Nguyễn Tôn Nhan:

 

“Góc chợ thành Gia cách mấy năm

Am Ngu khép mở tưởng mù tăm

Lời im để nặng tình thơ nhạn

Ngày bặt thêm đau tấc ruột tằm

Cuộc lớn vẫn đi về lãng đãng

Thế cùng còn hít thở xa xăm

Hẹn nhau xanh thẳm không đâu đấy

Bước lộng tơ sao rạng ánh rằm”

 

(Nguyễn Tôn Nhan là bạn thơ, đồng thời là thông gia với Đặng Tấn Tới. Con trai Nguyễn Tôn Nhan cưới con gái Đặng Tấn Tới. Chữ viết thi sỹ)

 

Với nhà thơ Nguyễn Đức Sơn, Bước Chân:

 

“Gẫm những cuộc chơi đùa

Chạy dài thiên cổ

Đều để lại một lỗ

Thật to”

 

Với thi nhân Quách Tấn, Nhân Một Câu Nhắn Gởi:

 

“Ai đọc thơ tôi mà hỏi thơ?

Thôi thì thơ mộng lửa trời hơ

Đất Quê sớm tối còn hơi ấm

Vẫn lộng Đường Đi điểm sáng chờ”

 

Đường đi của thi ca từ bao giờ đến bây giờ vẫn Tuyệt:

 

“Viết viết muốn chẳng viết

Tuyệt tuyệt hóa bất tuyệt

Bao giờ như bây giờ

Tinh hoa hòa tinh huyết”

 

Tinh cha, huyết mẹ tạo sinh ra Cha Và Con Và... là bài thơ anh dành tặng riêng cho các con mình:

 

“Các con như chính là ta

Vì ta cũng đã từng là các con

Một dòng máu chạy bon bon

Chỉ tim biết được lối mòn dạ đau

Biển trời nghiêng gánh xưa sau

Cảm thương lặng lẽ một màu thẳm xanh”

 

Anh cảm thương lặng lẽ Nhìn Con Tập Lật:

 

“Bấy lâu nằm ngửa ngó cao

Giờ tập nhìn thấp lật ào đi con

Cuộc đời trên dưới xoay tròn

Qua bao điên đảo vẫn còn một Tâm”

 

Chỉ một Tâm ấy thôi mà hoạt dụng cả cuộc đời thi sỹ và bây giờ, anh muốn truyền cái Tâm ấy lại cho các con mình, như các Thiền sư truyền tâm ấn cho đệ tử vậy.

 

Thi phẩm cuối cùng Lửa Và Hoa Bên Bờ Năm Tháng Hai Ngàn có hơn 300 bài thơ thiền như thế. Tuyệt thay! Bài nào cũng rốt ráo mà Đặng Tấn Tới đã làm trong những giây phút xuất thần, nhập thánh, trước khi lên xe tang chạy về thiên cổ, nhà thơ vẫn Thở Nhẹ:

 

“Ai người tránh khỏi bệnh đời

Bồ tát vì thế chưa rời Đường Đi

Ta dù chẳng đến vô vi

Vào ra thở nhẹ có gì nặng đâu!”

 

Thở nhẹ nhõm khi đối diện tử thần, thi nhân mỉm cười phất áo ra đi, chiều ngày 27. 10. 2017 (âm lịch) tại nhà riêng của anh ở Bình Thạnh, Sài Gòn. Đó là một chiều Vô Chiêu:

 

“Đó là tuyệt kỹ vô chiêu

Cũng là tiếng gọi trăng triều nước mây

Thế mà máu chảy nào hay

Từng giây từng phút trao tay Đất Trời

Lý nào thật lẽ gì chơi

Một vòng tròn mãi chẳng vơi chẳng đầy”

 

Ngày anh lên đường, ly viễn phương qua bên kia thế giới, du sỹ không về kịp, nên trầm mặc, lặng im Niệm Tưởng Đặng Tấn Tới:

 

Tiễn người thi sỹ lên đường

Qua chơi cõi lạ cuối phương xa mù

Khuất bên kia miền thiên thu

Vĩnh hằng trăng nước giữa phù vân bay

 

Ra đi gởi lại nơi này

Những bài thơ rất ngất say của mình

Tuyệt Huyết Ca Tâm Thu Kinh

Với Trúc Biếc Mưa Mắt Tình Thi Thiên

 

Tiếng thơ linh chiếu diệu huyền

Vang trong tâm thức bừng uyên tư nào

Xong rồi một cuộc chiêm bao

Đến đi như thị bước vào như nhiên



nha tho Dang Tan Toi
dang tan toi (2)
dang tan toi (4)dang tan toi (5)dang tan toi (6)dang tan toi (7)


 

15. Tinh Túy Thi Ca Đặng Tấn Tới

 

Đặng Tấn Tới là một thi nhân thượng đẳng, một hồn thơ sâu lắng, trầm mặc Đông phương. Hương vị thi ca đầy chất Thiền nhưng cũng đậm đà, tha thiết tình cảm. Anh sinh ra đời, không phải để làm việc quốc gia đại sự hay để cứu nhân độ thế chi chi cả mà chỉ như cánh Hoàng Hạc vàng bay qua cánh đồng rộng, sông dài, nhật nguyệt, nghiêng cánh lướt tiêu dao, dạo cung đàn thiên địa, hát khúc tử sinh trên từng phím tình tự, phiêu bồng, rong chơi và làm thơ mà thôi.

 

Thơ Đặng Tấn Tới mới lạ, có cách dùng ngôn ngữ rất riêng, rất đặc biệt như đại thi sỹ Bùi Giáng viết trong tác phẩm Thi Ca Tư Tưởng (1969): “Nguồn thơ Đặng Tấn Tới rất đặc biệt. Đọc mấy thi phẩm ông, tôi còn giữ lại một cảm tưởng hiu hắt. Rủi sao, tập thơ ông, tôi bỏ lạc đâu mất, nên không thể dám mạo muội viết nhận định ra đây. Xin một dịp khác.”

 

Nhà thơ thứ thiệt Nguyễn Đức Sơn thì nhận xét rằng: “Đặng Tấn Tới là một trong bảy, tám nhà thơ nổi bật nhất, trong vòng mười lăm năm nay” (Thư ngày 2. 7. 1969)

 

Học giả Nguyễn Hiến Lê cảm nhận: “...Thú thật, có bài tôi đọc mấy lần mà không hiểu nổi, những bài nào hiểu thì thường là thích, chẳng hạn bài Thơ Rời, bài Hòa Vui, bài Như Lòng...Thật là đặc biệt, thơ Đặng Tấn Tới không thấy ở các nhà thơ khác thời nay” ( Thư ngày 5. 6. 1974)

 

Còn Mang Viên Long, nhà văn đã xuất bản hơn 30 tác phẩm, bạn đồng hương, chí cốt Đặng Tấn Tới phát biểu chân tình:“Thơ Đặng Tấn Tới chảy dài suốt 30 năm đều thấm đẫm tư tưởng Phật giáo Thiền tông, nhưng từ lăng kính triết lý đạo Phật, dòng thơ anh soi chiếu một cách vi tế, như nhiên đến các ngõ ngách đời sống riêng chung, từ phận người, quê hương đến vạn hữu...với một phong cách bày tỏ hiện đại, bên cạnh tài năng sử dụng nhuần nhuyễn các thể thơ với nhiều cách tân, nhiều từ ngữ sáng tạo, nhạy bén, gợi cảm.

 

Dòng thơ nhất quán như một dòng chảy huyền nhiệm, uyển chuyển, tinh khôi, chuyên chở bao ý tình sâu thẳm, thâm thúy. Có bài như câu kệ, công án hay của giây phút thiền quán tỉnh thức xuyên qua những điều giản dị quanh đời sống, như cỏ cây, gió mây, trăng nước. Không gian thơ mở ra bát ngát, dường như gần, dường như xa, nhưng trong cái ảo diệu, linh hoạt ấy, lại có sức truyền cảm, hấp dẫn người đọc lạ kỳ...”

 

Đi vào thế giới thi ca Đặng Tấn Tới, chúng ta đi từ ngạc nhiên này đến bàng hoàng khác, bởi anh thường sử dụng lục bát, ngũ ngôn, song thất lục bát để diễn đạt ý thơ bát ngát của mình. Qua cách dùng nghệ thuật biểu tượng, hoán dụ, ẩn ngữ, như chọn từ đặt tên cho mỗi tập thơ Mưa Mắt Tình, Tâm Thu Kinh, Thi Thiên, Tuyệt Huyết Ca  đã là một nét tân kỳ, mới mẻ, mới lạ rồi...

 

Quá độc đáo nguồn Thơ Tình sinh động, nhưng ấn tượng nhất vẫn là mạch Thơ Thiền tuyệt diệu. Điều đó, cho chúng ta biết, thi sỹ đã tâm chứng, cảm ngộ được mật pháp phiêu bồng, ẩn ngữ vô vi, dị ảo của ngôn ngữ thượng thừa, vô phân biệt trí...

 

Khi thi nhân bất thần cất giọng hát một mình “Tinh hoa hòa tinh huyết” thì có lẽ nhà thơ đã     trực nhận Thấy Gì?:

 

“Hết lời chẳng tới vô ngôn

Thi ca rất mực chân dồn bước chân

Kia kìa rõ cái gần gần

Đuổi chơi chớ bắt cho thần thẩn thơ

Nghìn xưa soi đến bây giờ

Bóng trăng trăng bóng ai ngờ nước xanh

Nên em mới lại vin cành

Thấy gì trong vắt dưới mành mi cong”

 

Thấy và nghe phát xuất từ Lòng trong trẻo, Tâm thanh tịnh. Đấy là cái thấy sơ nguyên, trinh tuyền vẻ đẹp nụ cười của Người Em Nhân Loại:

 

“Người Em Nhân Loại còn chơi

Tâm hồn cát bụi rạng ngời cỏ hoa

Bình minh soi thấu trăng tà

Tử sinh hòa nhập Một Nhà Là Đây

Trận cười từ nổi sóng mây

Đi đi ta lại vui vầy trong nhau

Hội mùa môi ghé thơm đau

Còn xanh ngấn tích trước sau không cùng

Em về lộng lẫy bao dung

Đôi điều chưa thốt lạ lùng nghe ra

Trùng khơi mãi gọi giang hà

Triều dâng non nước lời ca giao nguồn”

 

Nguồn cội giao hòa nhau từ buổi bình minh khai thiên lập địa đến cuổi buổi hoàng hôn, xế bóng nguyệt tà nhân thế lâm ly, thì bất thình lình hiện ra:

 

“Bình minh soi thấu trăng tà

Tử sinh hòa nhập Một Nhà Là Đây”

 

Ồ! Ồ! “Một Nhà Là Đây” là cõi Quê Chung mà thi sỹ thượng đẳng Đặng Tấn Tới đã vạch ra cho chúng ta thấy, qua hai nguồn mạch thi ca sáng tạo lung linh Tình thi và Thiền thi thật vô cùng thú vị. Diệu kỳ thi ca là thế. Vậy thì cần chi phải hiểu tinh túy thi ca Đặng Tấn Tới làm chi nữa mà cứ thong dong để lòng mình trong veo, reo hát an lành, thanh lương như Nước Chảy Mây Trôi:

 

“Nước trôi mây cuốn buồn chăng?

Thưa rằng nước cuốn vui bằng mây trôi

Trời xanh đất đỏ bồi hồi

Dưới trăng đâu chẳng chỗ ngồi một khi

Hết lòng hết sức bước đi

Hỏi là nước chảy hay vì mây bay...”

 

Tâm Nhiên


 [A1]

 [A2]

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
18/09/2014(Xem: 19392)
Ao chùa dưới ánh bình minh, Muôn hoa đua nở cảnh tình mến thương. Cánh sen còn đọng giọt sương, Cánh này đầy hạt bóng gương đón mời,
15/09/2014(Xem: 18944)
Mở cửa ra vào chẳng mọc mời Cớ sao Muỗi tự tiện vào chơi Vo ve âm điệu nghe khó chịu Dán sát bên tai úp mở lời
15/09/2014(Xem: 16710)
Một bài thơ tặng Ngoại tôi, Viết sao cho đủ những lời yêu thương, Ngoại thường nhắc đến quê hương, Bên đàn cháu nhỏ say hương cổ trầu.
13/09/2014(Xem: 19588)
Lang thang sáu nẻo luân trầm Cỏ cây thấy cũng lặng thầm xót thương Niềm vui chưa trọn đã buồn Nụ cười chưa tắt, lệ tuôn ướt đời. Nắng, mưa.. tóc đã bạc rồi Vẫn chênh vênh, vẫn chơi vơi dạ sầu. Đâu nhìn ra thuở ban đầu Đâu tìm ra mối chỉ nào vướng chân.
13/09/2014(Xem: 15747)
Thế gian này có quá nhiều chuyện phiền não, vì vậy, rất nhiều người đi gặp Phật Tổ cùng hỏi về một vấn đề: “Con nên làm thế nào, mới không còn những điều phiền muộn?” Phật Tổ cho đáp án đều như nhau: “Chỉ cần buông tay, con sẽ thôi không phiền não nữa.” Có một người thanh niên, cho rằng mình thông minh tỏ ý không phục, bèn đi gặp Phật Tổ và hỏi:
11/09/2014(Xem: 16630)
mây tan, trời lồ lộ trùng khơi bóng chim về dưới trăng, ngàn hoa nở một thoáng bừng giấc mê.
10/09/2014(Xem: 17507)
Đời người, dù hết trăm năm Trong con, Mẹ vẫn trăng rằm thiên thu Đời người, trả lại phù du Trong con, Mẹ vẫn Mẫu Từ dấu yêu Vai này cõng Mẹ nâng niu Vai kia cõng Mẹ chắt chiu yếu già Dẫu rằng cát bụi Ta Bà Mượn thân hư ảo trong nhà trần gian
09/09/2014(Xem: 17632)
Không chỗ trú chẳng bến bờ Vẫn bầu rượu với túi thơ dặm dài Ngút mùa cuồng sĩ lai rai Nghêu ngao vô sự hát bài Hoa Nghiêm
09/09/2014(Xem: 22235)
Lung linh giọt sáng ngàn phương Đêm huyền diệu xuống nghe sương luân hồi Ngắm trăng ngắm cả cuộc đời Giữa mênh mông chợt ta ngồi ngắm ta
06/09/2014(Xem: 23037)
Cuộc đời sóng vỗ Đại đao Lời cha dạy bảo, con nào có quên Người cha đức rộng lại hiền Ân cần dạy bảo, khuyên người hồi tâm Tiền tài danh vọng chẳng cần Quyết noi gương Phật độ lần chúng sanh Hào quang tỏa sáng xung quanh Hiện thân Di-Lặc cứu đời độ nhân Tọa thiền phóng điển An lành Như như bất động, bóng Người từ bi