Hận Sông Gianh (thơ)

08/10/202506:43(Xem: 4497)
Hận Sông Gianh (thơ)

song gianh

Hận Sông Gianh




Đây sông Gianh đây biên cương thống khổ
Đây sa trường đây nấm mộ dân nam
Đây giòng sông, giòng máu Việt còn loang
Đây cổ độ xương tàn xưa chất đống

Và còn đấy hận phân chia nòi giống
Và còn đây cơn ác mộng tương tàn
Và còn đây hồn dân việt thác oan
Bao thế kỷ chưa tan niềm uất hận

Ôi Việt Nam cùng Việt Nam gây hấn
Muôn đời sau để hận cho giòng sông
Mộng bá vương Trịnh Nguyễn có còn không
Nhục nội chiến non sông còn in vết

Đây sông Gianh nơi nồi da xáo thịt
Nơi sông Hồng tàn phá giống Lạc Hồng
Nơi máu hồng nhuộm đỏ sóng giòng sông
Máu nhơ bẩn muôn đời không rửa sạch.


Đằng Phương Nguyễn Ngọc Huy



song gianh

Lịch sử


Sông Gianh và Đèo Ngang là biểu trưng địa lý của tỉnh Quảng Bình. Phần thượng lưu sông Gianh có tên là Rào Nậy với những đặc điểm địa vật lý và địa chất dị thường của Rào Nậy - Hoành Sơn, một nhánh khác là Rào Son có động Phong Nha (Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, di sản thiên nhiên thế giới). Cửa sông có cảng biển gọi là Cảng Gianh.

Trong lịch sử, sông Gianh được gọi theo tên chữ là Linh Giang (chữ Hán: 𤅷江). Nếu đèo Ngang là ranh giới thời Đại Cồ Việt và Chiêm Thành sau khi người Việt giành được độc lập từ 939 đến năm 1069, thì sông Gianh là ranh giới thời Trịnh–Nguyễn phân tranh giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài (1600-1774) với xung đột vũ trang gần nửa thế kỷ (1627-1672). Chiến trường chính là miền Bố Chính (Quảng Bình). Đèo Ngang gắn với huyền thoại "Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân" của Trạng Trình. Năm 1558, Nguyễn Hoàng, một danh tướng thời nhà Lê trung hưng, con thứ của Nguyễn Kim, sợ bị Trịnh Kiểm mưu hại, đã xin vào trấn thủ Thuận Hóa, mở đầu nhà Nguyễn sau này.

Trong cuộc chiến tranh Trịnh Nguyễn, quân Trịnh án ngữ ở đèo Ngang, nhưng thực sự ranh giới chia cắt Bắc - Nam của Việt Nam là sông Gianh từ 1627 đến 1774. Bờ bắc sông có chợ Ba Đồn là nơi quân Trịnh mua đồ ăn uống và trao đổi hàng hóa.

Vào tháng 7 năm 1885, vua Hàm Nghi, người bị Pháp phế truất vì thiếu cộng tác và đã phát động kêu gọi nhân dân khởi nghĩa, quân Cần vương lánh nạn ở thượng nguồn sông, một vùng hoang dã ò núi và rừng rậm. Chính ở đó, tại ngôi làng nhỏ Ò Vé, ông đã bị bắt vào ngày 2 tháng 11 năm 1888 và bị đày đến Algiers, nơi ông mất năm 1943.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
03/05/2012(Xem: 17825)
Ta lặng ngó nàng thơ vồn vã bước Lên đồi mây gối mộng ước sơn hà Ngày hun hút hiu buồn đành khép lại
03/05/2012(Xem: 18726)
Nghĩ về thân thể thì đừng mong không bệnh khổ, không bệnh khổ thì dục vọng dễ sanh.
03/05/2012(Xem: 17793)
Ta đi tìm bạn phương nào Nhòa đôi tròng mắt, lao đao thân gầy Xuôi về Đông lại lên Tây...
03/05/2012(Xem: 18795)
Cứu xét Tâm Tánh thì đừng cầu không khúc mắc, vì không khúc mắc thì sở học không thấu đáo.
03/05/2012(Xem: 15647)
Những dấu buồn cất giữ đã bao năm Nay nói hộ nhau nghe bằng biểu tượng Đáy mắt mẹ, khoảng đắng cay còn đọng
02/05/2012(Xem: 20999)
Xin xót thương những linh hồn ngạ quỷ Đừng sát sinh, đừng giỗ tiệc đua đòi Mình hưởng thụ, nhưng họ thêm đau khổ
28/04/2012(Xem: 17325)
Trần gian cung phụng Đản sanh Mỗi Tâm mỗi Bụt viên thành truyện xưa Quản chi tạt gió xan mưa...
26/04/2012(Xem: 18241)
Bài này khuyết danh và có niên đại khoảng năm 1950, HT Thích Như Điển đã đọc cho Hạnh Tuệ chép lại để lưu truyền.
26/04/2012(Xem: 16128)
Thôi em hãy cứ phiêu bồng, Để ta kiết giới tu đông một mình, Soi gương đối diện bóng hình, Đập gương chợt thấy mông mênh đất trời
26/04/2012(Xem: 18664)
Bao la biển rộng sông dài. Tháng Tư ấm đậm tình người Việt Nam Lũy tre hiện mái chùa làng...