Hận Sông Gianh (thơ)

08/10/202506:43(Xem: 4558)
Hận Sông Gianh (thơ)

song gianh

Hận Sông Gianh




Đây sông Gianh đây biên cương thống khổ
Đây sa trường đây nấm mộ dân nam
Đây giòng sông, giòng máu Việt còn loang
Đây cổ độ xương tàn xưa chất đống

Và còn đấy hận phân chia nòi giống
Và còn đây cơn ác mộng tương tàn
Và còn đây hồn dân việt thác oan
Bao thế kỷ chưa tan niềm uất hận

Ôi Việt Nam cùng Việt Nam gây hấn
Muôn đời sau để hận cho giòng sông
Mộng bá vương Trịnh Nguyễn có còn không
Nhục nội chiến non sông còn in vết

Đây sông Gianh nơi nồi da xáo thịt
Nơi sông Hồng tàn phá giống Lạc Hồng
Nơi máu hồng nhuộm đỏ sóng giòng sông
Máu nhơ bẩn muôn đời không rửa sạch.


Đằng Phương Nguyễn Ngọc Huy



song gianh

Lịch sử


Sông Gianh và Đèo Ngang là biểu trưng địa lý của tỉnh Quảng Bình. Phần thượng lưu sông Gianh có tên là Rào Nậy với những đặc điểm địa vật lý và địa chất dị thường của Rào Nậy - Hoành Sơn, một nhánh khác là Rào Son có động Phong Nha (Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, di sản thiên nhiên thế giới). Cửa sông có cảng biển gọi là Cảng Gianh.

Trong lịch sử, sông Gianh được gọi theo tên chữ là Linh Giang (chữ Hán: 𤅷江). Nếu đèo Ngang là ranh giới thời Đại Cồ Việt và Chiêm Thành sau khi người Việt giành được độc lập từ 939 đến năm 1069, thì sông Gianh là ranh giới thời Trịnh–Nguyễn phân tranh giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài (1600-1774) với xung đột vũ trang gần nửa thế kỷ (1627-1672). Chiến trường chính là miền Bố Chính (Quảng Bình). Đèo Ngang gắn với huyền thoại "Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân" của Trạng Trình. Năm 1558, Nguyễn Hoàng, một danh tướng thời nhà Lê trung hưng, con thứ của Nguyễn Kim, sợ bị Trịnh Kiểm mưu hại, đã xin vào trấn thủ Thuận Hóa, mở đầu nhà Nguyễn sau này.

Trong cuộc chiến tranh Trịnh Nguyễn, quân Trịnh án ngữ ở đèo Ngang, nhưng thực sự ranh giới chia cắt Bắc - Nam của Việt Nam là sông Gianh từ 1627 đến 1774. Bờ bắc sông có chợ Ba Đồn là nơi quân Trịnh mua đồ ăn uống và trao đổi hàng hóa.

Vào tháng 7 năm 1885, vua Hàm Nghi, người bị Pháp phế truất vì thiếu cộng tác và đã phát động kêu gọi nhân dân khởi nghĩa, quân Cần vương lánh nạn ở thượng nguồn sông, một vùng hoang dã ò núi và rừng rậm. Chính ở đó, tại ngôi làng nhỏ Ò Vé, ông đã bị bắt vào ngày 2 tháng 11 năm 1888 và bị đày đến Algiers, nơi ông mất năm 1943.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28/03/2013(Xem: 14671)
Thiền lâm vi tiếu ngàn xưa Cười đời sảng khoái vẫn chưa cạn cười Cười ngất ngưỡng với héo tươi Cười đau đớn ngộ, cười ruồi nhiếp tâm
28/03/2013(Xem: 15612)
Ta về thọ hưởng cơm chùa A ha... ngon quá, bụng vừa hoan ca Bồi hồi vị đắng khổ qua Bát canh tưới đẫm gẫm ra ngọt bùi
28/03/2013(Xem: 13469)
Ngân lên sớm đón triêu dương Nhắc nhau ngày mới yêu thương sớt cùng Đời gian nan khổ chập chùng Nhẹ vơi khi trái tim gần bên nhau,
28/03/2013(Xem: 14444)
Dài trôi một giấc mộng này Đường xa mỏi gót Đêm ngày chiêm bao Mộng trong mộng mãi xôn xao
28/03/2013(Xem: 16793)
Sau lưng đường nhựa nhòa rồi Tạm quên tất bật dòng đời gian nan Nhấp nhô đường đất về làng
28/03/2013(Xem: 15663)
Nỗi buồn nỗi khổ đời xưa Nỗi sung sướng đến móc mưa bất ngờ Đời xưa đất đá đều đờ đẫn điên Đời này đất đá cằn khô
28/03/2013(Xem: 18188)
Và ba bài dưới đây xin được đảnh lễ Thầy Tuệ Sỹ tôn kính, tóc trắng muôn đời trên mây núi Trường Sơn.
28/03/2013(Xem: 19553)
Ðây là hình ảnh Thượng Tọa Tuệ Sỹ, thế danh Phạm Văn Thương, sinh năm 1943, xuất gia tiểu đồng khi còn cư ngụ bên Lào. Thầy là một trí thức Phật giáo mà tâm thức và hành sử hướng về Dân tộc và Ðạo pháp ...
28/03/2013(Xem: 17681)
“Trung thu từ niệm” ý thơ ngây - Tập ký đây là quyển sổ tay - Nghĩ, thấy, nghe sao ghi chép vậy - Đạo đời học tập những điều hay.
27/03/2013(Xem: 16344)
Đi qua năm tháng mệt nhoài Nỗi buồn ở lại, nụ cười bay đi Chọt nhìn khắc khổ trên tay Thấy hoa vừa nở đã đầy sắc hương