Hồi Hướng Công Đức

03/10/202519:20(Xem: 3545)
Hồi Hướng Công Đức
ht tinh su-1
Hồi Hướng Công Đức


Phước lành con đã tạo ra
Các đời quá khứ hay là đời nay
Nghiệp chưa cho quả phước nào
Nguyện thành pháp độ để vào thiện căn .
Sau này dù tạo mấy lần
Từ đây cho đến vô sanh Niết Bàn
Hễ làm chuyện tốt sẵn sàng
Mỗi điều lợi ích thành đoàn nhân duyên
Giúp cho phiền não sớm yên
Trợ mau giải thoát kế liền kiếp sau
Nếu trễ chẳng gặp Phật nào
Nhằm kỳ Độc Giác làm sao cũng thành .
(HT Tịnh Sự dịch từ Pali)

Nhất tâm đảnh lễ Nam Mô Việt Nam Phật Giáo Siêu Lý Tự Khai Sơn A Tỳ Đàm Việt Nam dịch giả húy Thượng Tịnh hạ Sự Trưởng Lão Hòa Thượng Tôn Sư



ht tinh su-1

Tỳ Khưu Tịnh Sự, thế danh là Võ Văn Đang, sinh năm Quí Sửu (1913), trong một gia đình có truyền thống Nho giáo, tại một vùng quê miền Nam, xã Hòa Long, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. Thân phụ Ngài là cụ Võ Văn Tỏ, thân mẫu là cụ Trần Thị Thông.

Năm 7 tuổi Ngài đã học chữ Nho. Rất thông minh, Ngài được người đương thời gọi là “Thần đồng Lê Quí Đôn”. Do túc duyên sẵn có từ nhiều đời, đến năm 12 tuổi Ngài xuất gia và thọ giới Sa Di tại chùa Bửu Hưng (Sa Đéc). Thấy Ngài quá thông minh nên Bổn sư đặt pháp danh là Thích Huệ Lực.

Năm 20 tuổi Ngài thọ giới Tỳ kheo tại chùa Kim Huê, Sa Đéc. Đến năm 25 tuổi Ngài được bổ nhiệm về trụ trì tại chùa Phước Định, Chợ Lách. Năm 30 tuổi Ngài trụ trì chùa Viên Giác, Vĩnh Long. Năm 35 tuổi duyên lành đối với Phật giáo Nam Tông đã chín mùi, Ngài được du học tại Chùa Tháp Campuchia, thọ giới theo Phật giáo Nam Tông tại chùa Kùm Pung (Treyloko) ở Trà Pét.

Từ Campuchia Ngài có thiện duyên du học tại Thái Lan, thọ giới Tỳ kheo tại chùa Pakknam Bangkok. Ngài được thầy tế độ ban pháp danh là Tịnh Sự (Santakicco) vì thấy Ngài chuyên tâm hành đạo. Tại xứ Phật giáo Thái Lan này, Ngài đã thực hành hạnh đầu đà, tu thiền Minh Sát và học A Tỳ Đàm (Abhidhamma) trong bảy năm. Rời Thái Lan về Việt Nam, Ngài trở lại trụ trì chùa Viên Giác – Vĩnh Long. Ngài bắt đầu mở mang truyền bá giáo pháp Nguyên Thủy. Ngài dạy Pháp học A Tỳ Đàm Pàli (Abhidhamma) và Pháp hành Tứ Niệm Xứ.

Muốn cho môn học Abhidhamma được truyền bá rộng rãi nên vào năm 59 tuổi Ngài về trụ trì chùa Siêu Lý – Sài Gòn. Mở trường chuyên dạy về môn Abhidhamma và dịch các bộ sách Giáo Khoa Phật Học như Vi Diệu Pháp Sơ Cấp, Trung Cấp và Chánh Tạng Abhidhamma.

Ngài đã đào tạo nhiều thế hệ học trò Vi Diệu Pháp. Các thế hệ đệ tử này đã kế thừa sự nghiệp của Ngài truyền bá môn Abhidhamma khắp nơi. Những thế hệ đệ tử Vi Diệu Pháp đầu tiên hiện nay còn những vị tiêu biểu như Đại Đức Giác Chánh, cư sĩ Vĩnh Phúc, cư sĩ Trần Quỳnh Hương đã có công đức duy trì và phát triển môn học Abhidhamma.

Về phương diện đào tạo Tăng tài, Ngài đã từng làm thầy Tế độ truyền giới xuất gia cho hàng trăm Sa Di, Tỳ Kheo. Họ đã tiếp nối được sự nghiệp truyền bá giáo pháp của Ngài một cách tốt đẹp.
Không những chỉ đào tạo Tăng tài mà Ngài còn xây dựng rất nhiều cơ sở tự viện: chùa Viên Giác (Vĩnh Long), chùa Long Linh, chùa Giác Phước, chùa Pháp Độ, chùa Trúc Lâm, chùa Siêu Lý, chùa Thiền Quang 1, chùa Thiền Quang 2.

Điểm nổi bật nhất trong sự nghiệp hoằng pháp của Hòa thượng là Ngài đã dịch hoàn thành Tạng luận Pàli tức Tạng Abhidhamma (A Tỳ Đàm, Vi Diệu Pháp) gồm:
  1. Bộ Pháp Tụ (Dhammasangani)
  2. Bộ Phân Tích (Vibhanga)
  3. Bộ Chất Ngữ (Dhàtu kàthà)
  4. Bộ Nhân Chế Định (Puggala Pannatti)
  5. Bộ Ngữ Tông (Kàthà Vatthu)
  6. Bộ Song Đối (Yamaka)
  7. Bộ Pháp Trí (Patthana)

Đó là phần chánh tạng Abhidhamma. Sau đây là những dịch phẩm giáo khoa Adhidhamma được giảng dạy tại các trường Phật Học Thái Lan:
  1. Vi Diệu Pháp Sơ Cấp
  2. Vi Diệu Pháp Trung Cấp
  3. Vi Diệu Pháp Cao Cấp
  4. Thanh Tịnh Đạo
  5. Diệu Pháp Lý Hợp

Sự nghiệp đạo pháp của Ngài vô cùng to lớn. Nhất là Ngài đã dành hết đời mình để phiên dịch trọn Tạng Vi Diệu Pháp (Luận Tạng Pàli). Qua công hạnh này, Ngài là một ngôi sao mà càng nhìn chúng ta càng thấy sáng hơn.

Đêm mùng 6 tháng 5 năm Giáp Tý, Ngài thọ bệnh. Nửa đêm hôm ấy Ngài cho gọi Chư Tăng để ban di huấn và gởi lời sám hối đến Tăng chúng gần xa. Rồi Ngài an trú chánh niệm và viên tịch lúc 6 giờ 15′ sáng ngày 7 tháng 5 năm Giáp Tý (tức 05-06-1984), hưởng thọ 72 tuổi, hành đạo 52 năm.

Trước khi viên tịch Ngài đã giảng về sự khổ, rồi mỉm cười tắt hơi thở cuối cùng. Ngài ra đi nhưng sự nghiệp đạo pháp của Ngài vẫn còn ở lại với hậu tấn ngưỡng cầu giải thoát khổ đau, để hằng an vui tự tại nơi Niết Bàn tịch tịnh.

(budsas.org)





Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
12/02/2018(Xem: 20896)
Một khối sầu tư mỏi dặm dài Xuân về hoài cảm những ai ai Cành Mai mùa cũ trong hoài tưởng Hương Cúc thu nào thoảng gió mai Mây trắng bâng khuâng… lòng khách lữ Bóng chiều bảng lảng… bóng chiều phai Về đâu! Ai hỏi trăng đầu núi! Lắng khúc ca dao, Đẹp dấu hài.
09/02/2018(Xem: 11770)
Ngẫm lại lâm phiền, ủ khổ đau Thân nầy bọt bóng sẽ về đâu? Vơ đầy cũng chỉ bay sương khói Nhét đẫy nhưng rồi lộn bể dâu Giữ chặt tìm phương hoài chẳng cuối Vòng quanh lạc hướng mãi không đầu Thì ra tất cả như là mộng Tỏ nỗi đường qua tránh vực sâu.
05/02/2018(Xem: 12525)
Tình tăng lữ tháng ngày luôn gắn bó Sách tấn nhau cùng tiến bước đường tu Dẫu mai đây gặp cảnh gió mây mù Mối duyên đạo chẳng bao giờ phai nhạt .
03/02/2018(Xem: 14370)
Đất Việt muôn đời tiếng nước tôi Tiền nhân khai phá thưở xa xôi Biển dài chảy suốt tình dân tộc Núi thẳm mây rừng đẹp mãi thôi .
03/02/2018(Xem: 12940)
Nơi miền bắc Ấn Độ xưa Có bầy nai sống bốn mùa bình yên, Nai sinh ra rồi lớn lên, Ngay khu rừng ở cạnh bên xóm làng
03/02/2018(Xem: 12805)
Nước kia có một ông vua Vốn ham việc lạ, lại ưa chuyện đùa, Tuổi vua bẩy chục có thừa, Một hôm cao hứng nhân mùa đầu Xuân
27/01/2018(Xem: 16655)
Người mắt biếc ngây thơ ngày hội lớn Khóe môi cười nắng quái cũng gầy hao Như cò trắng giữa đồng xanh bất tận Ta yêu người vì khoảnh khắc chiêm bao.
27/01/2018(Xem: 11385)
Anh chàng Đại Lãng thuở xưa, Có tài đô vật rất ư tuyệt vời, Lại thêm sức mạnh hơn người,
27/01/2018(Xem: 11023)
Phóng tác theo bản CHIỀU TÀ của Phạm Duy phổ lời từ bản nhạc nguyên tác Sérénata, tác giả Ý Enrico Toselli. Lắng chuông tiếng chùa ngân Vạn dập dìu tiếng kinh Ngày nao, nhớ mãi năm nào Nguyệt tuế quay vần Duyên kiếp chưa hề lỡ rồi Đã vô úy sầu chưa? Lời này là Quán Âm Quỳ hương dưới ánh trăng vàng Ôm gối ơ hờ Ôi tiếng chuông chùa ngân trầm Chiều thanh thanh lâng lâng lòng người Đời triền miên khóc tiếng chào đời Ngài hỡi! Xuống đây đi nghe lời tha thiết Như chuyện bình tâm Lời mong kia là đó Cho nhau nâng niu lời kinh
26/01/2018(Xem: 20429)
Công ơn Thầy Tổ mênh mông Dù đi hay ở vẫn không phụ lòng Thầy như trăng sáng trời trong Lắng soi tâm thức suốt thông lòng mình .