Hoàng Tử Hiếu Thảo

20/06/202510:38(Xem: 5417)
Hoàng Tử Hiếu Thảo

HOÀNG TỬ HIẾU THẢO

 Hoàng Tử Hiếu Thảo

Có ông hoàng tử ngày xưa

Tên là Nhẫn Nhục, nhân từ nổi danh

Yêu thương mọi kẻ xung quanh,

Lại thêm trí tuệ thông minh hơn người,

Khôi ngô tướng mạo rạng ngời

Toàn dân khen đức, khắp nơi mến tài.

Vua và hoàng hậu yêu ngài

Vì lòng hiếu thảo ít ai sánh cùng.

Một hôm vua bệnh trong cung

Thuốc men dùng mãi vẫn không giảm nhiều

Ông hoàng lo lắng đăm chiêu

Cùng quan họp lại sớm chiều nghĩ suy

Bàn nhau xem có cách gì

Kiếm ra thuốc quý mang về chữa vua.

Trong triều có kẻ lọc lừa

Manh tâm muốn cướp ngôi vua lâu rồi

Chờ vua bạo bệnh qua đời

Hại luôn hoàng tử là người nối ngôi,

Gian thần thừa dịp ngỏ lời:

"Thuốc hay tuy biết. Kiếm thời khó sao!"

Ông hoàng: "Dù khó xiết bao

Tìm cho bằng được, ta nào chịu thua!"

Gian thần: "Tiên dược xin thưa

Đó là bộ não người vừa thanh xuân

Lại thêm hiếu thảo vô ngần

Có lòng nhân đức xa gần đều khen!"

Vui mừng hoàng tử hỏi liền:

"Não ta dùng chế thuốc tiên được nào?"

Gian thần trong bụng mừng sao

Bề ngoài giả bộ buồn rầu xin thưa:

"Nào ai hơn được tâm từ

Nào ai hiếu thảo được như bằng ngài

Não ngài làm thuốc thật hay

Nhưng nghe sao thấy đắng cay bội phần

Triều thần đâu nỡ bất nhân

Nào ai lại dám nhẫn tâm cùng ngài!"

*

Ông hoàng khẳng khái buông lời:

"Ta đây nào có tiếc đời gấm hoa

Nếu mà cứu mạng vua cha

Thì ta dù chết lòng đà sướng vui!".

Triều thần thương cảm ngậm ngùi

Toàn dân hay chuyện người người lệ sa.

Ông hoàng truyền: "Cắt đầu ta

Mổ ra lấy não đem hòa thuốc ngay

Cầu Trời phù hộ thuốc hay

Chữa vua khỏi bệnh ta đây ngậm cười!".

Khen thay lòng hiếu tuyệt vời

Cho nên động đến đất trời linh thiêng

Thuốc hay như có phép tiên

Uống xong chén thuốc vua liền khỏe ra.

*

Ông hoàng hiếu với mẹ cha

Là tiền thân Phật Thích Ca thuở nào.

*

Tâm Minh Ngô Tằng Giao

(Thi hóa Truyện Cổ Phật Giáo)

 

____________________________________________

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
04/08/2010(Xem: 14590)
Bảy tình (thơ)
16/07/2010(Xem: 26432)
Vừa qua, được đọc mấy bài thơ chữ Hán của thầy Tuệ Sĩ đăng trên tờ Khánh Anh ở Paris (10.1996) với lời giới thiệu của Huỳnh kim Quang, lòng tôi rất xúc động. Nghĩ đến thầy, nghĩ đến một tài năng của đất nước, một niềm tự hào của trí tuệ Việt Nam, một nhà Phật học uyên bác đang bị đầy đọa một cách phi pháp trong cảnh lao tù kể từ ngày 25.3.1984, lòng tôi trào dậy nỗi bất bình đối với những kẻ đang tay vứt "viên ngọc quý" của nước nhà (xin phép mượn từ này trong lời nhận xét của học giả Đào duy Anh, sau khi ông đã tiếp xúc với thầy tại Nha trang hồi năm 1976: "Thầy là viên ngọc quý của Phật giáo và của Việt Nam ") để chà đạp xuống bùn đen... Đọc đi đọc lại, tôi càng cảm thấy rõ thi tài của một nhà thơ hiếm thấy thời nay và đặc biệt là cảm nhận sâu sắc tâm đại từ, đại bi cao thượng, rộng lớn của một tăng sĩ với phong độ an nhiên tự tại, ung dung bất chấp cảnh lao tù khắc nghiệt... Đạo vị và thiền vị cô đọng trong thơ của thầy kết tinh lại thành những hòn ngọc báu của thơ ca.
28/06/2010(Xem: 53674)
Ba môn vô lậu học Giới Định Tuệ là con đường duy nhất đưa đến Niết bàn an lạc. Muốn đến Niết-bàn an lạc mà không theo con đường này thì chỉ loanh quanh trong vòng luân hồi ba cõi. Nhân Giới sinh Định, nhân Định phát Tuệ– ba môn học liên kết chặt chẽ vào nhau, nhờ vậy mới đủ sức diệt trừ tham ái, đẩy lùi vô minh, mở ra chân trời Giác ngộ. Nhưng Giới học mênh mông, Định học mêng mông, Tuệ học mênh mông; nếu không nắm được “Cương yếu” thì khó bề hiểu biết chu đáo, đúng đắn. Không hiểu biết đúng đắn thì không sinh tâm tịnh tín; không có tâm tịnh tín thì sẽ không có tịnh hạnh, như vậy, con đường giải thoát bị bế tắc. Như một người học hoài mà vẫn không hiểu, tu hoàí mà vẫn không cảm nhận được chút lợi ích an lạc nào.
19/05/2010(Xem: 17824)
Đừng tưởng cứ trọc là sư Cứ vâng là chịu, cứ ừ là ngoan Đừng tưởng có của đã sang Cứ im lặng tưởng là vàng nguyên cây Đừng tưởng cứ uống là say Cứ chân là bước cứ tay là sờ Đừng tưởng cứ đợi là chờ Cứ âm là nhạc cứ thơ là vần Đừng tưởng cứ mới là tân
16/05/2010(Xem: 13100)
Thầy từ phương xa đến đây, Chúng con hạnh ngộ xum vầy. Đêm nay chén trà thơm ngát, Nhấp cho tình Đạo dâng đầy. Mừng Thầy từ Úc tới thăm, Đêm nay trăng sáng ngày rằm. Thầy về từ tâm lan tỏa, Giữa mùa nắng đẹp tháng Năm
10/03/2010(Xem: 20110)
Qua sự nghiệp trước tác và dịch thuật của Hòa Thượng thì phần thơ chiếm một tỷ lệ quá ít đối với các phần dịch thuật và sáng tác khác nhất là về Luật và, còn ít hơnnữa đối với cả một đời Ngài đã bỏ ra phục vụ đạopháp và dân tộc, qua nhiều chức năng nhiệm vụ khác nhaunhất là giáo dục và văn hóa là chính của Ngài.
10/03/2010(Xem: 15384)
Ba La Mật, tiếng Phạn Là Pu-ra-mi-ta, Gồm có sáu pháp chính Của những người xuất gia. Ba La Mật có nghĩa Là vượt qua sông Mê. Một quá trình tu dưỡng Giúp phát tâm Bồ Đề. Đây là Bồ Tát đạo, Trước, giải thoát cho mình,
10/03/2010(Xem: 20128)
Tên Phật, theo tiếng Phạn, Là A-mi-tab-ha, Tức Vô Lượng Ánh Sáng, Tức Phật A Di Đà. Đức A Di Đà Phật Là vị Phật đầu tiên Trong vô số Đức Phật Được tôn làm người hiền. Ngài được thờ nhiều nhất Trong Ma-hay-a-na, Tức Đại Thừa, nhánh Phật Thịnh hành ở nước ta.
01/10/2007(Xem: 21369)
214 Bộ Chữ Hán (soạn theo âm vận dễ thuộc lòng)
20/10/2003(Xem: 44361)
Tình cờ tôi được cầm quyển Việt Nam Thi Sử Hùng Ca của Mặc Giang do một người bạn trao tay, tôi cảm thấy hạnh phúc - hạnh phúc của sự đồng cảm tự tình dân tộc, vì ở thời buổi này vẫn còn có những người thiết tha với sự hưng vong của đất nước. Chính vì vậy tôi không ngại ngùng gì khi giới thiệu nhà thơ Mặc Giang với tác phẩm Việt Nam Thi Sử Hùng Ca. Mặc Giang là một nhà thơ tư duy sâu sắc, một nhà thơ của thời đại với những thao thức về thân phận con người, những trăn trở về vận mệnh dân tộc, . . . Tất cả đã được Mặc Giang thể hiện trong Việt Nam Thi Sử Hùng Ca trong sáng và xúc tích, tràn đầy lòng tự hào dân tộc khi được mang cái gène “Con Rồng Cháu Tiên” luân lưu trong huyết quản.