Kho Tàng Giấu Chôn

25/04/202510:00(Xem: 5014)
Kho Tàng Giấu Chôn

KHO TÀNG GIẤU CHÔN

Kho Tan Chon Giau 

Ngày xưa có một ông già

Ở Ba La Nại, cửa nhà giàu sang

Ông già có một bạn vàng

Rất là tài giỏi, khôn ngoan hơn người.

Vợ ông già còn trẻ thôi

Đảm đang, duyên dáng, xinh tươi, mượt mà

Nên ông thầm nhủ lo xa:

“Đây là may mắn hay là nguy tai?”

Vợ chồng có một con trai

Ông yêu, ông quý nào ai sánh bằng.

Một ngày ông chợt nghĩ rằng:

“Vợ càng trẻ đẹp lại càng khó tin

Khi ta chết nàng chóng quên

Lấy thêm chồng khác ngay liền chẳng sai

Cả hai phung phí tiêu xài

Hết luôn tất cả gia tài của ta

Do bao công sức kiếm ra,

Con ta còn có gì mà hưởng đây,

Giờ ta phải kiếm cách ngay

Giữ gia tài lại sau này cho con

Cách hay nhất để bảo tồn

Là đem của cải giấu chôn trong rừng”

Ông bèn gọi kẻ tùy tùng

Trung thành giúp việc đã từng bao năm

Vào rừng sâu, chốn xa xăm

Mang theo của cải âm thầm giấu chôn

Nan Đà tên của gia nhân

Nghe ông tín cẩn ân cần nhắn nhe:

“Này Nan Đà hãy lắng nghe

Cố mà giữ kín những gì hôm nay

Khi ta từ giã đời này

Con ta rồi sẽ tới ngày lớn khôn

Bạn nên kề cận nó luôn

Rồi đưa nó tới chỗ chôn kho tàng

Nhưng khuyên nó hãy khôn ngoan

Biết đường xử dụng bạc vàng báu châu!”

*

Quả nhiên sau đó ít lâu

Ông già tuổi hạc về chầu tổ tiên

Con trai giờ đã thành niên

Học hành đỗ đạt lại thêm hiền lành

Thay cha làm chủ gia đình,

Một hôm bất chợt mẹ anh nói rằng:

“Con ơi! Con có hay chăng

Đa nghi hạng nhất ai bằng cha con

Cho nên ông đã giấu chôn

Bao nhiêu tài sản vào luôn rừng già,

Mẹ nghi lão bộc Nan Đà

Từ lâu hắn vẫn tỏ ra trung thành

Cha con tín cẩn hết mình,

Hỏi đi! Chắc hắn biết rành chỗ chôn

Tất nhiên hắn sẽ giúp con

Đem kho tàng trở về luôn nhà mình,

Rồi con còn lập gia đình

Chăm lo gia sản cha dành lại đây!”

Chàng nghe mẹ gợi ý hay

Hỏi ra quả thật đúng ngay y lời.

*

Nan Đà một buổi đẹp trời

Đưa chàng trẻ tuổi vào chơi khu rừng

Tới nơi kia hắn chợt ngừng

Rồi leo lên đứng trên từng đất cao

Thấy mình quan trọng biết bao

Kho tàng mình biết, chủ nào có hay!

Lòng kiêu mạn chợt dâng đầy

Hắn bèn mắng nhiếc chủ ngay tức thì:

“Đứa con hư, hãy đi đi

Tấm thân nô lệ có gì quý đâu

Gia tài không đáng hưởng nào!”

Bao lời thô ác, hỗn hào tuôn ra

Chàng trai nuốt giận làm lơ

Trở về nhịn nhục đợi chờ chuyến sau.

Vài ba ngày đã trôi mau

Cả hai trở lại rừng sâu chuyến này

Rồi y vậy, chẳng đổi thay

Nan Đà lại giống như ngày trước thôi

Thật là kỳ quặc quá trời

Chàng trai suy nghĩ, tìm người hỏi thăm.

Nhớ cha trước có bạn thân

Từ lâu thông thái khôn ngoan tiếng đồn

Chàng bèn tìm tới thăm ông

Đầu đuôi thuật chuyện cầu mong giúp mình,

Ông già thân với gia đình

Nghe xong bèn nói: “Quả tình lạ thay!

Kỳ sau đi với hắn ngay

Vào khu rừng cũ lần này xem sao

Khi mà nó nói hỗn hào

Nó dừng chân lại chỗ nào chớ quên

Nhớ xong, đuổi nó đi liền

Dạy cho nó biết chớ nên làm tàng,

Chỗ nào nó đứng là vàng

Hãy đào của cải mà mang trở về,

Nan Đà mặc cảm mọi bề

Vốn mang bản chất tự ti yếu hèn

Nên khi nó có chút quyền

Nó bèn lạm dụng hầu quên phận mình!”

*

Lời khuyên hợp lý hợp tình

Chàng trai liền đó thi hành y theo

Quả nhiên mọi việc xuôi chiều

Gia tài chôn giấu bao nhiêu bạc vàng

Chàng con lấy lại dễ dàng

Tuân theo đúng ý cha chàng trước đây

Khôn ngoan cai quản khéo tay

Đồng thời bố thí để gây nhân lành

Tạo ra công đức cho mình

Mang thêm lợi lạc cho quanh xóm làng.

*

Tâm Minh Ngô Tằng Giao

(thi hóa phỏng dịch theo bản văn xuôi

BURIED TREASURE

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

*

Nhận diện tiền thân Đức Phật

TRUYỆN KHO TÀNG GIẤU CHÔN

Bạn già có trí của cha chàng thanh niên là tiền thân Đức Phật.

Nan Đà là đệ tử của Xá Lợi Phất.

______________________________________________________________

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16/07/2010(Xem: 27030)
Vừa qua, được đọc mấy bài thơ chữ Hán của thầy Tuệ Sĩ đăng trên tờ Khánh Anh ở Paris (10.1996) với lời giới thiệu của Huỳnh kim Quang, lòng tôi rất xúc động. Nghĩ đến thầy, nghĩ đến một tài năng của đất nước, một niềm tự hào của trí tuệ Việt Nam, một nhà Phật học uyên bác đang bị đầy đọa một cách phi pháp trong cảnh lao tù kể từ ngày 25.3.1984, lòng tôi trào dậy nỗi bất bình đối với những kẻ đang tay vứt "viên ngọc quý" của nước nhà (xin phép mượn từ này trong lời nhận xét của học giả Đào duy Anh, sau khi ông đã tiếp xúc với thầy tại Nha trang hồi năm 1976: "Thầy là viên ngọc quý của Phật giáo và của Việt Nam ") để chà đạp xuống bùn đen... Đọc đi đọc lại, tôi càng cảm thấy rõ thi tài của một nhà thơ hiếm thấy thời nay và đặc biệt là cảm nhận sâu sắc tâm đại từ, đại bi cao thượng, rộng lớn của một tăng sĩ với phong độ an nhiên tự tại, ung dung bất chấp cảnh lao tù khắc nghiệt... Đạo vị và thiền vị cô đọng trong thơ của thầy kết tinh lại thành những hòn ngọc báu của thơ ca.
28/06/2010(Xem: 54524)
Ba môn vô lậu học Giới Định Tuệ là con đường duy nhất đưa đến Niết bàn an lạc. Muốn đến Niết-bàn an lạc mà không theo con đường này thì chỉ loanh quanh trong vòng luân hồi ba cõi. Nhân Giới sinh Định, nhân Định phát Tuệ– ba môn học liên kết chặt chẽ vào nhau, nhờ vậy mới đủ sức diệt trừ tham ái, đẩy lùi vô minh, mở ra chân trời Giác ngộ. Nhưng Giới học mênh mông, Định học mêng mông, Tuệ học mênh mông; nếu không nắm được “Cương yếu” thì khó bề hiểu biết chu đáo, đúng đắn. Không hiểu biết đúng đắn thì không sinh tâm tịnh tín; không có tâm tịnh tín thì sẽ không có tịnh hạnh, như vậy, con đường giải thoát bị bế tắc. Như một người học hoài mà vẫn không hiểu, tu hoàí mà vẫn không cảm nhận được chút lợi ích an lạc nào.
19/05/2010(Xem: 18519)
Đừng tưởng cứ trọc là sư Cứ vâng là chịu, cứ ừ là ngoan Đừng tưởng có của đã sang Cứ im lặng tưởng là vàng nguyên cây Đừng tưởng cứ uống là say Cứ chân là bước cứ tay là sờ Đừng tưởng cứ đợi là chờ Cứ âm là nhạc cứ thơ là vần Đừng tưởng cứ mới là tân
16/05/2010(Xem: 13685)
Thầy từ phương xa đến đây, Chúng con hạnh ngộ xum vầy. Đêm nay chén trà thơm ngát, Nhấp cho tình Đạo dâng đầy. Mừng Thầy từ Úc tới thăm, Đêm nay trăng sáng ngày rằm. Thầy về từ tâm lan tỏa, Giữa mùa nắng đẹp tháng Năm
10/03/2010(Xem: 20575)
Qua sự nghiệp trước tác và dịch thuật của Hòa Thượng thì phần thơ chiếm một tỷ lệ quá ít đối với các phần dịch thuật và sáng tác khác nhất là về Luật và, còn ít hơnnữa đối với cả một đời Ngài đã bỏ ra phục vụ đạopháp và dân tộc, qua nhiều chức năng nhiệm vụ khác nhaunhất là giáo dục và văn hóa là chính của Ngài.
10/03/2010(Xem: 16032)
Ba La Mật, tiếng Phạn Là Pu-ra-mi-ta, Gồm có sáu pháp chính Của những người xuất gia. Ba La Mật có nghĩa Là vượt qua sông Mê. Một quá trình tu dưỡng Giúp phát tâm Bồ Đề. Đây là Bồ Tát đạo, Trước, giải thoát cho mình,
10/03/2010(Xem: 20496)
Tên Phật, theo tiếng Phạn, Là A-mi-tab-ha, Tức Vô Lượng Ánh Sáng, Tức Phật A Di Đà. Đức A Di Đà Phật Là vị Phật đầu tiên Trong vô số Đức Phật Được tôn làm người hiền. Ngài được thờ nhiều nhất Trong Ma-hay-a-na, Tức Đại Thừa, nhánh Phật Thịnh hành ở nước ta.
01/10/2007(Xem: 22284)
214 Bộ Chữ Hán (soạn theo âm vận dễ thuộc lòng)
20/10/2003(Xem: 45190)
Tình cờ tôi được cầm quyển Việt Nam Thi Sử Hùng Ca của Mặc Giang do một người bạn trao tay, tôi cảm thấy hạnh phúc - hạnh phúc của sự đồng cảm tự tình dân tộc, vì ở thời buổi này vẫn còn có những người thiết tha với sự hưng vong của đất nước. Chính vì vậy tôi không ngại ngùng gì khi giới thiệu nhà thơ Mặc Giang với tác phẩm Việt Nam Thi Sử Hùng Ca. Mặc Giang là một nhà thơ tư duy sâu sắc, một nhà thơ của thời đại với những thao thức về thân phận con người, những trăn trở về vận mệnh dân tộc, . . . Tất cả đã được Mặc Giang thể hiện trong Việt Nam Thi Sử Hùng Ca trong sáng và xúc tích, tràn đầy lòng tự hào dân tộc khi được mang cái gène “Con Rồng Cháu Tiên” luân lưu trong huyết quản.