Mây trắng thong dong (thơ)

20/05/202411:04(Xem: 7503)
Mây trắng thong dong (thơ)

may trang


Mây trắng thong dong

nhớ thuở xưa – khi ngươi còn là đám bạch vân bay thong dong

ta theo nguồn múa ca đi về đại dương mênh mông.

ngươi lưu luyến chốn đỉnh cao, lắng tiếng reo cười ngàn thông

ta nhấp nhô trên sóng bạc, lên xuống vào ra muôn trùng

kịp đến khi thấy trần gian quằn quại lệ chảy thành dòng

thì ngươi biến thành mưa, nhỏ giọt tuôn tràn đêm đông

y đen mịt mờ một phương chừ, mặt trời hấp hối

ngươi gọi ta về, cùng nhau giăng tay nổi trận cuồng phong.

lòng thảnh thơi đâu, khi hoa ngàn cỏ núi còn rên siết hận bất công,

ngươi đưa hai tay thiên thần, quyết tâm tháo bỏ cùm gông.

trong khi bóng tối phủ đầy, họng súng đen ngòm bạo lực

xương dồn thành gò cao chừ, trong khi máu đã chảy dài thành sông

 

hai bàn tay ngươi giập nát, thương ôi, xích xiềng vẫn chưa tháo được,

ta gọi sấm sét về bên ngươi, quyết cùng bạo lực mở cuộc thư hùng.

gan dạ hơn người, trong đêm ngươi hóa thành Sư Vương rống lớn

hàng vạn loài ma quái nghe ngươi, đã cầm cập run trong đêm sương

hiên ngang không lùi bước chừ, dù phía trước dày đặc hầm chông,

ngươi thản nhiên đưa mắt nhìn bạo lực chừ, như nhìn vào khoảng không

Sống Chết là chi chừ, ép uổng nhau sao được?

ngươi gọi tên ta mà cười chừ, không một lời rên siết, dù tra tấn cùm gông

y giờ thoát đi, xiềng xích chẳng còn buộc nổi chân thân,

ngươi trở về kiếp xưa mây trắng, thảnh thơi trên bầu trời mênh mông;

Đến, Đi tự ngươi – đỉnh cao nào thích thú thì ngươi dừng lại,

cưỡi trên sóng bạc đầu chừ, ta hát ru ngươi khúc hát bi hùng.

Nguyệt san Phật giáo Việt Nam xuất bản tại Los Angeles, Hoa Kỳ do thầy Mãn Giác chủ trương đã in bài này trong số đặc biệt Mây trắng thảnh thơi bay kỷ niệm Thích Thiện Minh (số 18 và 19, tháng 12 năm 1979). Thầy Thiện Minh là một trong những vị cao tăng Việt Nam hiện đại, đã từng đóng góp lớn lao cho phong trào phục hưng Phật giáo từ 1949 đến 1974. Là một người túc trí và can trường, Thầy đã từng bị ám sát và sau đó bị chính quyền ông Nguyễn Văn Thiệu kết án mười lăm năm khổ sai, sau đó lại bị chính quyền Hà Nội giam giữ trong trại học tập và cuối cùng đã bị bức tử vào ngày 18 tháng 10 năm 1978.

Tại Pháp, thầy Nhất Hạnh được điện báo về hung tin này ngày 21 tháng 10 năm 1978; Thầy đã chỉ thị cho chúng tôi trong Phái đoàn làm ngay một bản tin gửi tới các hãng thông tấn quốc tế tại Paris. Bài thơ được làm ngay tối đó.

Trong tờ Phật giáo Việt Nam in tại Los Angeles, những chữ ngươi đã được in lầm thành chữ người vì vậy hùng khí của bài thơ bị giảm đi khá nhiều. Nay xin trích lại theo nguyên văn trong Dấu chân trên cát.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22/10/2015(Xem: 18077)
Khi vừa thức giấc mỗi ngày Bạn ơi hãy nghĩ thân này hôm nay Thật là may mắn lắm thay Vẫn còn tỉnh dậy với đầy niềm vui.
12/10/2015(Xem: 17959)
Thầy đi một sáng mùa thu Trong cơn lốc thổi Vô thường tử sinh
11/10/2015(Xem: 12293)
Có người khách hỏi lão hòa thượng: Pháp sư, con muốn hỏi ngài một vấn đề hơi bất kính một chút có được không ạ? Lão hòa thượng: Xin ông cứ nói! Người khách: Lúc ở nơi dân chúng đông đúc thì ngài ăn chay, vậy khi ở một mình trong phòng ngài có ăn thịt không? Lão hòa thượng hỏi người khách: Ông tự lái xe tới đây phải không? Người khách trả lời: Vâng, đúng ạ! Lão hòa thượng: Khi lái xe cần thắt dây an toàn, xin hỏi ông là ông thắt vì sự an toàn của bản thân hay vì cảnh sát? Nếu như vì bản thân mình thì có hay không có cảnh sát ông sẽ vẫn đều thắt thôi. Người khách: A, Con hiểu rồi!
08/10/2015(Xem: 30348)
Khi chim còn sống trên đời Chim ăn kiến nhỏ thấy thời khó chi, Nhưng khi chim bị chết đi Kiến thời ăn nó có gì khó đâu.
06/10/2015(Xem: 24454)
(1) Con nguyện luôn yêu thương tất cả chúng sanh Bằng cách xem họ quý báu Hơn ngọc như ý Để thành tựu mục tiêu tối thượng.
06/10/2015(Xem: 30660)
Con xin đảnh lễ tâm đại bi. Con xin đảnh lễ chư đạo sư cao cả. Con xin đảnh lễ chư Bổn Tôn, Là chư vị ban nguồn cảm hứng về lòng tín tâm và sùng mộ.
05/10/2015(Xem: 13133)
Lại thêm thu nửa trở về, Nghĩ thân đất khách mà tê tái buồn. Nhớ về quê mẹ cội nguồn, Khi nhìn đôi cánh lá vàng nhẹ bay, Nhón chân dạo bước vườn ngoài, Nghiêng mình nhặt lá rụng rơi bên thềm. Sắp từng chiếc lá gọi tên, Thì thầm tên lá theo miền thế gian. Cảnh thu dễ gợi u buồn, Hỏi sao tâm để rộn ràng triền miên. Nhắn lòng ta ráng tịnh yên, Đem sao cho được chữ Thiền vào Thu !
03/10/2015(Xem: 30719)
Bằng nguyện lực của Tam Bảo Tối Thượng đáng tin cậy Và chân lý của tinh thần trách nhiệm toàn cầu của chúng con, Nguyện cho Phật pháp quý báu lan rộng và hưng thịnh Ở mọi vùng đất, theo chiều dài và chiều rộng của phương Tây.
02/10/2015(Xem: 20576)
Bài thơ vô cùng súc động Do not stand at my grave and weep (Đừng đứng khóc bên nấm mồ của mẹ) của Mary Elizabeth Frye (1905-2004) đã được dịch ra không biết bao nhiều thứ tiếng và đã được đọc lên, phổ nhạc, trình bầy không biết bao nhiêu lần bởi các ca sỹ trứ danh. Mary Elizabeth Frye là một bà nội trợ người Mỹ, làm nghề bán hoa. Bà được cả thế giới biết tên vì một lý do độc nhất : bà là tác giả bài thơ « Đừng đứng khóc bên nấm mồ của mẹ », được viết vào năm 1932. Mary Elizabeth sinh ra ở Dayton, Ohio. Mới ba tuổi đã mồ côi. Sau đến ở Baltimore, Maryland. Năm 27 tuổi lập gia đình với Claud Frye, ông làm nghề buôn bán quần áo. Bài thơ làm bà sau này trở nên nổi tiếng được viết trên một chiếc túi mua sắm, lấy cảm hứng từ chuyện một cô gái trẻ tuổi, Margaret Schwarzkopf, ở với gia đình Frye, đã không thể đến thăm mẹ đang hấp hối ở Đức, vì cô gái là dân Do Thái. Bài thơ chỉ vẻn vẹn có 12 dòng, không có chủ đề. Frye thấy bạn bè thích nên đã sao nhiều bản và lưu hành, nhưng chưa bao giờ
29/09/2015(Xem: 12572)
Dáng ngồi như núi như non Trăm năm sương gió vẫn còn uy nghiêm Trên cao sừng sững bóng hiền Mưa sa nắng chiếu địa thiên lưu tình Giữa đời lặng lặng thinh thinh Tỏa hương đạo hạnh hậu sinh hồi đầu Tử tôn gánh đội ân sâu Chuông ngân trưa tối, kinh cầu sớm khuya Bước chân hoằng độ đi, về Vườn ươm tỏa bóng bồ đề mát tươi Như non như núi không dời Đạo thành như ý, dáng ngồi thiên thu.