Tình Thương Quán Âm (thơ)

03/04/202416:56(Xem: 6442)
Tình Thương Quán Âm (thơ)


an vi bo tat quan am (2)

Tình Thương Quán Âm

 

Đêm qua mơ thấy Mẹ về

Hào quang sáng rực sơn khê

Dịu dàng vỗ về khuyên nhủ

Lệ vui tuôn chảy dầm dề.

 

Cam lồ Mẹ tắm tâm con

Vô lượng hỷ xả từ bi

Sạch tan bụi trần hệ lụy

Thoát rời phiền não tham si.

 

Lạy Mẹ hiền Quán Thế Âm

Diệu âm tiếng dội ngàn năm

Tạ ơn tình thương cao cả

Con nguyện đốt đuốc soi đường.

 

Hình hài một tấm sơ sinh

Nguyên vẹn ánh đạo quang minh

Thanh tâm này kim chỉ hướng

Tây phương là chốn con về.

 

Trí Lạc

 



an vi bo tat quan am (3)


BUỒN MÀ CHI

 

Buồn mà chi đời vốn dĩ đẹp

Chỉ là ta quên lãng mà thôi

Hoa vẫn nở khoe sắc bên đồi

Mây vẫn bay thênh thang tự tại

 

Trời vẫn xanh xanh niềm hy vọng

Như tình quê bát ngát ruộng đồng 

Như mục đồng lưng trâu thổi sáo

Như mắt mẹ lấp lánh trăng sao.

 

Buồn mà chi Đông tàn Xuân đến

Chồi non biếc mạch sống dâng tràn

Bé thơ nô đùa vô tư lự

Mai vàng tươi dưới nắng đong đưa.

 

Mẹ yêu thương ru con đêm trường

Con lớn khôn trong lời ca dao

Có từ ngàn xưa hồn dân tộc

Dòng lịch sử Đinh Lê Lý Trần.

 

Buồn mà chi cuộc sống vô thường

Tham ái là mầm mống đau thương

Vô mình nên trầm luân bể khổ

Chấp ngã khiến lạc lối quên đường.

 

Quyết tâm đoạn tuyệt với đau thương

Buông xuống lòng thôi hết vấn vương

Bạn đi rời xa miền quá khứ

Tôi về nương tựa tám con đường.

 

Trí Lạc



an vi bo tat quan am (5)

 



VÔ ĐỀ

 

Cuộc đời sắc sắc không không

Bể dâu còn lại tấm lòng từ bi

Cuộc đời hiệp hiệp ly ly

Bể dâu còn lại chuyến đi về nguồn

Cuộc đời nổi nổi trôi trôi

Bể dâu còn lại cái nôi đạo tràng

Cuộc đời bại bại vang vang

Bể dâu còn lại trăng vàng thảnh thơi

Cuộc đời đầy đầy vơi vơi

Bể dâu còn lại hương lời Phật lưu

Cuộc đời hỷ hỷ ưu ưu

Bể dâu còn lại tiếng sư tử gầm

Cuộc đời thăng thăng trầm trầm

Bể dâu còn lại diệu âm độ đời

Cuộc đời khóc khóc cười cười

Bể dâu còn lại dạo chơi hồng trần.

 

Trí Lạc

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16/07/2010(Xem: 26472)
Vừa qua, được đọc mấy bài thơ chữ Hán của thầy Tuệ Sĩ đăng trên tờ Khánh Anh ở Paris (10.1996) với lời giới thiệu của Huỳnh kim Quang, lòng tôi rất xúc động. Nghĩ đến thầy, nghĩ đến một tài năng của đất nước, một niềm tự hào của trí tuệ Việt Nam, một nhà Phật học uyên bác đang bị đầy đọa một cách phi pháp trong cảnh lao tù kể từ ngày 25.3.1984, lòng tôi trào dậy nỗi bất bình đối với những kẻ đang tay vứt "viên ngọc quý" của nước nhà (xin phép mượn từ này trong lời nhận xét của học giả Đào duy Anh, sau khi ông đã tiếp xúc với thầy tại Nha trang hồi năm 1976: "Thầy là viên ngọc quý của Phật giáo và của Việt Nam ") để chà đạp xuống bùn đen... Đọc đi đọc lại, tôi càng cảm thấy rõ thi tài của một nhà thơ hiếm thấy thời nay và đặc biệt là cảm nhận sâu sắc tâm đại từ, đại bi cao thượng, rộng lớn của một tăng sĩ với phong độ an nhiên tự tại, ung dung bất chấp cảnh lao tù khắc nghiệt... Đạo vị và thiền vị cô đọng trong thơ của thầy kết tinh lại thành những hòn ngọc báu của thơ ca.
28/06/2010(Xem: 53768)
Ba môn vô lậu học Giới Định Tuệ là con đường duy nhất đưa đến Niết bàn an lạc. Muốn đến Niết-bàn an lạc mà không theo con đường này thì chỉ loanh quanh trong vòng luân hồi ba cõi. Nhân Giới sinh Định, nhân Định phát Tuệ– ba môn học liên kết chặt chẽ vào nhau, nhờ vậy mới đủ sức diệt trừ tham ái, đẩy lùi vô minh, mở ra chân trời Giác ngộ. Nhưng Giới học mênh mông, Định học mêng mông, Tuệ học mênh mông; nếu không nắm được “Cương yếu” thì khó bề hiểu biết chu đáo, đúng đắn. Không hiểu biết đúng đắn thì không sinh tâm tịnh tín; không có tâm tịnh tín thì sẽ không có tịnh hạnh, như vậy, con đường giải thoát bị bế tắc. Như một người học hoài mà vẫn không hiểu, tu hoàí mà vẫn không cảm nhận được chút lợi ích an lạc nào.
19/05/2010(Xem: 17896)
Đừng tưởng cứ trọc là sư Cứ vâng là chịu, cứ ừ là ngoan Đừng tưởng có của đã sang Cứ im lặng tưởng là vàng nguyên cây Đừng tưởng cứ uống là say Cứ chân là bước cứ tay là sờ Đừng tưởng cứ đợi là chờ Cứ âm là nhạc cứ thơ là vần Đừng tưởng cứ mới là tân
16/05/2010(Xem: 13158)
Thầy từ phương xa đến đây, Chúng con hạnh ngộ xum vầy. Đêm nay chén trà thơm ngát, Nhấp cho tình Đạo dâng đầy. Mừng Thầy từ Úc tới thăm, Đêm nay trăng sáng ngày rằm. Thầy về từ tâm lan tỏa, Giữa mùa nắng đẹp tháng Năm
10/03/2010(Xem: 20129)
Qua sự nghiệp trước tác và dịch thuật của Hòa Thượng thì phần thơ chiếm một tỷ lệ quá ít đối với các phần dịch thuật và sáng tác khác nhất là về Luật và, còn ít hơnnữa đối với cả một đời Ngài đã bỏ ra phục vụ đạopháp và dân tộc, qua nhiều chức năng nhiệm vụ khác nhaunhất là giáo dục và văn hóa là chính của Ngài.
10/03/2010(Xem: 15437)
Ba La Mật, tiếng Phạn Là Pu-ra-mi-ta, Gồm có sáu pháp chính Của những người xuất gia. Ba La Mật có nghĩa Là vượt qua sông Mê. Một quá trình tu dưỡng Giúp phát tâm Bồ Đề. Đây là Bồ Tát đạo, Trước, giải thoát cho mình,
10/03/2010(Xem: 20167)
Tên Phật, theo tiếng Phạn, Là A-mi-tab-ha, Tức Vô Lượng Ánh Sáng, Tức Phật A Di Đà. Đức A Di Đà Phật Là vị Phật đầu tiên Trong vô số Đức Phật Được tôn làm người hiền. Ngài được thờ nhiều nhất Trong Ma-hay-a-na, Tức Đại Thừa, nhánh Phật Thịnh hành ở nước ta.
01/10/2007(Xem: 21477)
214 Bộ Chữ Hán (soạn theo âm vận dễ thuộc lòng)
20/10/2003(Xem: 44469)
Tình cờ tôi được cầm quyển Việt Nam Thi Sử Hùng Ca của Mặc Giang do một người bạn trao tay, tôi cảm thấy hạnh phúc - hạnh phúc của sự đồng cảm tự tình dân tộc, vì ở thời buổi này vẫn còn có những người thiết tha với sự hưng vong của đất nước. Chính vì vậy tôi không ngại ngùng gì khi giới thiệu nhà thơ Mặc Giang với tác phẩm Việt Nam Thi Sử Hùng Ca. Mặc Giang là một nhà thơ tư duy sâu sắc, một nhà thơ của thời đại với những thao thức về thân phận con người, những trăn trở về vận mệnh dân tộc, . . . Tất cả đã được Mặc Giang thể hiện trong Việt Nam Thi Sử Hùng Ca trong sáng và xúc tích, tràn đầy lòng tự hào dân tộc khi được mang cái gène “Con Rồng Cháu Tiên” luân lưu trong huyết quản.