Chùm Thơ Thiền “ Chân Quê"

07/05/202318:31(Xem: 9258)
Chùm Thơ Thiền “ Chân Quê"
phong canh dep





CHÂN QUÊ (*)

Chánh Tín Hà Vĩnh Tân


TÂM THƯỜNG


Sầu muộn mênh mang... chảy lững lờ,

Đêm như thơ thẩn... giữa vườn mơ,

Bỗng trăng ra khỏi... vầng mây tối,

Thoáng chợt hiện lên... mấy vần thơ.

Ánh dương dần tỏa... khắp chân trời,

Chim hót lá reo... hòa nhạc đời,

Thế sự xoay vần... theo gió cuốn,

Tâm thường an lạc... chốn thảnh thơi.


*


ĐỐN GIÁO


Phật chỉ có trong ... chúng sinh,

Rời chúng sinh chẳng ... thấy hình Phật đâu,

Phật tính sẵn có... khỏi cầu,

Từ Bi Hỷ Xả ... nhiệm mầu, linh thông.


Kiến tính thấu tỏ ... tính không,

Trung đạo, bát nhã ... cùng đồng "chẳng hai",

Chân lý siêu vượt ... đúng sai,

Chân tâm cũng chẳng ... trong ngoài thân ta.


Chúng sinh sống cõi ... Ta bà,

Vẫn có ánh huệ trong nh ... tinh anh.

Bồ đề tự tính ... tịnh thanh,

Diệu dụng tâm ấy ... chắc thành Phật ngay!


***


DIỆU PHÁP TRÍ ĐỘ


Bồ Tát quán Tự Tại,

Dạy Xá Lợi tử rằng,

Tâm quán thường lặng lẽ,

Huệ chiếu hằng sáng soi.


Rõ Ngũ uẩn trong ta,

Chẳng hề có tự tính,

Ai thực chứng điều ấy,

Khổ nạn khắc tiêu ngay.


Không chẳng khác gì sắc,

Sắc chính thực là không,

Vạn pháp đều như vậy,

Đồng một thể Không này.


Căn, Trần, mười tám Giới,

Tứ đế cùng Nhân duyên,

Trí - đắc và năng - sở,

Đều là Không cả mà.


Tâm không còn ngăn ngại,

Sợ hãi chẳng còn đâu,

Giữa biển khổ quay đầu.

Liền thấy ngay bến đậu.


Bồ Tát quán như thế,

Chứng nhập niết bàn rồi,

Chư Phật trong ba đời,

Cùng đắc vô thượng giác.


Diệu pháp Trí độ đấy,

Cứu vớt chúng sinh đây,

Vượt biển khổ sinh tử,

Về bến Giác ngộ này.


*


NGỘ ĐẠO


Ai cũng đều có đủ,

Chân tâm đồng vũ trụ,

Thanh tịnh, chẳng tử - sinh,

Rỗng lặng hằng diệu minh.


Trí huệ tựa mặt trời,

Trí năng như mặt trăng,

Ta bà như quả đất,

Đạo - bản đồ tâm linh


U mê là nguyệt thực,

Mặt trăng đang tối đen,

Bởi Ta bà che khuất,

Hết ánh sáng huệ năng.


Lời nói chẳng thể tả,

Não tưởng khó mà lường,

Suy nghĩ càng xa đạo,

Chỉ lặng để quán sâu.


Biết vào cửa đạo rồi

Sống tu từng hơi thở,

Chứng - chẳng gì chứng cả.

Ngộ - rỗng lặng sáng bừng.


Ta bà đâu chỉ khổ,

Tịnh độ cũng là đây,

Trong ánh sáng ngập đầy,

Của niềm vui nhân ái.


Không còn mình và họ,

Chỉ có chúng ta thôi,

Trên địa cầu duy nhất,

Vũ trụ quý yêu này.


*


BÁU NGỌC MA NÍ


Quán Thế Âm Bồ Tát,

Quán soi thấy rõ ràng,

Những viên ngọc Ma Ní,

Trong chúng sinh, ẩn tàng.


"Sức sống" cùng "Trí Huệ",

Gắn chặt với "Thời gian",

Ba viên ngọc vô giá ,

Tuyệt nhất cõi nhân gian.


"Sức sống" đồng Giác tính,

Sẵn trong mỗi sinh linh,

Giác tính rời - thân diệt,

Trở lại cõi vô tình.


"Thời gian"- thời Hiện tại,

Chẳng khứ cũng chẳng lai,

Khi mình đang hít thở,

Tâm cùng Cảnh - chẳng hai,


Làm người ai cũng đủ,

Trí Huệ đầy diệu linh,

Có năng lực rọi chiếu,

Phá tan cõi U minh.


Sống tu Bát Chánh Đạo,

Chánh Niệm - nhập Hiện tại,

Chánh Định - hiển Giác linh.

Chánh Kiến - tỏ Huệ minh.


Ba viên Ngọc quý đấy,

Phật chỉ dạy cho ta.

Biết diệu dụng Ngọc ấy,

Hạnh phúc bừng nở hoa.


***


BÌNH MINH


Vọng niệm ... Vượn nhảy nhót,

Vọng tưởng ... Ngựa chạy hoang,

Vọng tình ... Nai lẫn lối,

Tâm bình ... Chốn lạc an.


Tâm vọng ... Mặt biển dậy,

Trí năng ... Nguyệt tỏa xa,

Chân tâm ... Đáy biển lặng,

Trí huệ ... Nhật bừng ra.


*


CHÂN QUÊ


Vọng niệm, vọng tưởng ... vọng tình,

Vọng nào chưa lặng ... để mình lắng nghe,

Khi ba vọng hết ... nhi nhoe,

Lòng êm hiện cảnh ... Chân quê ru hời.


Sống đời ... dạo khắp muôn nơi,

Trí năng phương tiện ... giúp người đi xa,

Trí huệ ... ánh sáng đèn pha,

Chân tâm Diệu giác ... Quê nhà trượng phu.



Melbourne, Phật Đản, 5 tháng 5, Phật lịch 2567.

Chánh Tín Hà Vĩnh Tân

 

Chú thích:

(*) CHÂN QUÊ: Bảy bài thơ thiền này đều đã được đăng lần lượt trên “Cổng thông tin PHẬT GIÁO - Giáo hội Phật giáo Việt Nam và TRANG NHÀ QUẢNG ĐỨC - Melbourne. Chúng tạm được chia làm 3 cặp thơ có nội dung gắn kết một cách hữu cơ với nhau như “Cặp Khai “, “Cặp Giải” & “ Cặp Kết”:

Cặp đầu gồm 2 bài: Tâm thường (*) & Đốn giáo (*)
Cặp giữa gồm 3 bài: Diệu Pháp Trí Độ (*), Ngộ đạo & Báu ngọc ma ní (*).
Cặp cuối gồm hai bài: Bình Minh (thơ) - Thơ Ca - Trang Nhà Quảng Đức.
Các bài có dấu (*) là ký hiệu có lời chú giải của tác giả kèm theo mỗi bài thơ. Xin mời quý độc giả vào xem thêm.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
19/10/2016(Xem: 24586)
Tại phiên bế mạc Đại hội Liên minh Bưu chính Thế giới (UPU) lần thứ 26 tại Istanbul - Thổ Nhĩ Kỳ vừa diễn ra, em Nguyễn Thị Thu Trang học sinh lớp 9B trường THCS Nguyễn Trãi, huyện Nam Sách, Hải Dương (năm học 2015-2016) đã đọc bức thư hay nhất thế giới do em viết trước đại diện 190 quốc gia.
18/10/2016(Xem: 12051)
Có tâm hỷ là vui mừng không khổ - Hỷ ở đây tức vui với mọi người- Thấy điều lành nghe việc thiện vui tươi- Người thành tựu như chính mình làm được
18/10/2016(Xem: 10844)
Khi tâm xả là không còn chấp thủ Xả bỏ đi chuyện tốt xấu khen chê Buông bỏ điều từng đắm nhiễm đam mê Gây trở ngại đem đến nhiều phiền phức
18/10/2016(Xem: 11973)
Đêm khuya bước ra cửa Nhìn trăng sáng trời cao Ta chắp tay đứng lặng Lòng cảm xúc dâng trào .
16/10/2016(Xem: 11375)
Bi là giúp chúng sanh lìa đau khổ- Được ấm no bớt những cảnh cơ hàn- Hết khó khăn không còn phải gian nan- Sống vững chãi giữa cuộc đời xao động
15/10/2016(Xem: 12978)
Từ có nghĩa giúp chúng sanh an lạc - Không phân chia kẻ lạ hay người thân- Không so đo không tính toán xa gần- Tôn trọng hết mọi loài cùng vạn vật
12/10/2016(Xem: 10454)
Rồi một ngày sẽ đến Thân xác này rã tan Đất trở về với đất Còn chi nữa mà tham.
07/10/2016(Xem: 14422)
Chùm Tứ Cú Lục Bát có Nụ Cười hưởng ứng. Chào ngày mới Chào nhau ngày mới nắng vàng Từng tia hi vọng ấm tràn ước mơ Chào nhau ngày mới bài thơ Tiễn ngày qua đã trống trơ tiếng cười.
07/10/2016(Xem: 17372)
Vào Thu đọc thơ Nguyễn Du: Hai bài thơ mang tên Thăng Long của Nguyễn Du Một phần nghiên cứu dịch văn bản thơ chữ Hán Nguyễn Du qua bài Thăng Long 昇龍 [1] Tản mạn nhận diện Quốc hiệu Việt Nam trong ý thơ của bài thơ Thăng Long Khái niệm lịch sử của Thăng Long Thăng Long, là kinh thành - kinh đô của đất nước Đại Việt, từ vương triều Lý , (gọi là nhà Lý hoặc Lý triều, 1009-1225) cho đến triều đại nhà Lê Trung Hưng (1533-1789), tổng cộng 564 năm[2]. Thăng Long cũng được hiểu và được biết đến trong lịch sử vốn là địa danh tên cũ của Hà Nội hiện nay. Thăng Long nghĩa là “rồng bay lên” theo nghĩa Hán-Việt, hay 昇隆[4] nghĩa là “thịnh vượng”. Từ Thăng Long: “昇隆” là từ đồng âm với tên “昇龍: Thăng Long”, nhưng mang nghĩa khác với “昇龍”.
07/10/2016(Xem: 12714)
Hoàng cung cảnh đẹp vô cùng- Hoa thơm, cỏ lạ một vùng tươi xinh- Có hòn non bộ hữu tình- Có hồ bán nguyệt in hình trời mây