Tâm ( Bát điệp Tâm – Thuận nghịch độc )

27/04/202318:25(Xem: 7779)
Tâm ( Bát điệp Tâm – Thuận nghịch độc )
chu tam 2


TÂM 
 ( Bát điệp TÂM– Thuận nghịch độc ) 
 
Thuận:
 
Nhòa nhạt  nẻo TÂM chỉ khép đời,
Ngát hương TÂM nhật sánh xanh trời.
Hoa tàn, cảnh mệt TÂM rầu nhớ,
Đạo có, TÂM lành phúc khó  rơi.
Hòa nhẫn giữ TÂM nương  trí lực,   
Mộng đan xua tín rộn TÂM người.
Tà đường bỏ, sáng TÂM an lạc,
 Ngà ngọc sắc TÂM…để rạng cười.
 
Nghịch:
 
Cười rạng để TÂM sắc ngọc ngà,
Lạc an TÂM sáng bỏ đường tà.
Người TÂM rộn tín xua đan mộng,
Lực trí nương TÂM giữ nhẫn hòa.
Rơi khó phúc lành… TÂM có đạo,
Nhớ rầu TÂM mệt… cảnh tàn hoa.
Trời xanh sánh nhật, TÂM hương ngát,
Đời khép chỉ TÂM nẻo nhạt nhòa...
 
Minh Đạo


chu-Tam


TÂM

Kính họa thuận bài của Cư Sĩ Minh Đạo

TÂM nhoà nhạt nẽo đời chơi vơi
Hương TÂM ngát quyện toả bầu trời
Cảnh đổi hoa tàn TÂM xao động
TÂM lành Đạo trọn phúc nào vơi
Nương trí lực TÂM duy hoà nhẫn
Mộng mị huyễn tín rộn TÂM người
Ly đường tà TÂM ngời an lạc
TÂM báu đa nhuận sắc tốt tươi


TÂM

Kính họa nghịch bài của Cư Sĩ Minh Đạo

Tươi tốt sắc nhuận báu TÂM đa
Ngời lạc an TÂM ly đường tà
Người TÂM rộn tín huyễn mị mộng
Trí lực nương TÂM duy nhẫn hoà
Vơi nào Phúc lành TÂM trọn Đạo
Động xao TÂM đổi cảnh tàn hoa
Quyện bầu trời TÂM hương toả ngát
Chơi vơi đời TÂM nẽo nhạt nhoà

Quảng An Houston, Tx U SA


 
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
18/10/2016(Xem: 12015)
Có tâm hỷ là vui mừng không khổ - Hỷ ở đây tức vui với mọi người- Thấy điều lành nghe việc thiện vui tươi- Người thành tựu như chính mình làm được
18/10/2016(Xem: 10780)
Khi tâm xả là không còn chấp thủ Xả bỏ đi chuyện tốt xấu khen chê Buông bỏ điều từng đắm nhiễm đam mê Gây trở ngại đem đến nhiều phiền phức
18/10/2016(Xem: 11901)
Đêm khuya bước ra cửa Nhìn trăng sáng trời cao Ta chắp tay đứng lặng Lòng cảm xúc dâng trào .
16/10/2016(Xem: 11333)
Bi là giúp chúng sanh lìa đau khổ- Được ấm no bớt những cảnh cơ hàn- Hết khó khăn không còn phải gian nan- Sống vững chãi giữa cuộc đời xao động
15/10/2016(Xem: 12925)
Từ có nghĩa giúp chúng sanh an lạc - Không phân chia kẻ lạ hay người thân- Không so đo không tính toán xa gần- Tôn trọng hết mọi loài cùng vạn vật
12/10/2016(Xem: 10417)
Rồi một ngày sẽ đến Thân xác này rã tan Đất trở về với đất Còn chi nữa mà tham.
07/10/2016(Xem: 14344)
Chùm Tứ Cú Lục Bát có Nụ Cười hưởng ứng. Chào ngày mới Chào nhau ngày mới nắng vàng Từng tia hi vọng ấm tràn ước mơ Chào nhau ngày mới bài thơ Tiễn ngày qua đã trống trơ tiếng cười.
07/10/2016(Xem: 17228)
Vào Thu đọc thơ Nguyễn Du: Hai bài thơ mang tên Thăng Long của Nguyễn Du Một phần nghiên cứu dịch văn bản thơ chữ Hán Nguyễn Du qua bài Thăng Long 昇龍 [1] Tản mạn nhận diện Quốc hiệu Việt Nam trong ý thơ của bài thơ Thăng Long Khái niệm lịch sử của Thăng Long Thăng Long, là kinh thành - kinh đô của đất nước Đại Việt, từ vương triều Lý , (gọi là nhà Lý hoặc Lý triều, 1009-1225) cho đến triều đại nhà Lê Trung Hưng (1533-1789), tổng cộng 564 năm[2]. Thăng Long cũng được hiểu và được biết đến trong lịch sử vốn là địa danh tên cũ của Hà Nội hiện nay. Thăng Long nghĩa là “rồng bay lên” theo nghĩa Hán-Việt, hay 昇隆[4] nghĩa là “thịnh vượng”. Từ Thăng Long: “昇隆” là từ đồng âm với tên “昇龍: Thăng Long”, nhưng mang nghĩa khác với “昇龍”.
07/10/2016(Xem: 12617)
Hoàng cung cảnh đẹp vô cùng- Hoa thơm, cỏ lạ một vùng tươi xinh- Có hòn non bộ hữu tình- Có hồ bán nguyệt in hình trời mây
07/10/2016(Xem: 10131)
Anh chàng Đại Lãng thuở xưa- Có tài đô vật rất ư tuyệt vời- Lại thêm sức mạnh hơn người,- Khi trong nội bộ ngay nơi viện nhà