Dương Trần (thơ)

04/04/202106:55(Xem: 9546)
Dương Trần (thơ)


hoa_sen



Dương Trần
 
Sống giữa dương trần tựa chốn tiên,
Thênh thang chẳng vướng dạ an ghiền.
Sáng lên Đường luật vui bằng hữu,
Chiều xuống bồ đoàn tĩnh chút duyên.
Được thế cơ may đừng để cạn,
Hờn chi phận mỏng phải mang phiền.
Xuân qua hạ đến thời thay đổi,
Hiểu rõ từng ngày giảm thụy miên. (*)
 
-----------------
 (*) Thụy miên
Middha (S), Torpor, Thina-middha Thuỳ miên; Miên Sự tối tăm bản hữu trong tâm, ở vào trạng thái lười mỏi, lơ là, một trong những bất định địa pháp, tác động vào tinh thần làm cho tâm ám muội, mất sự tri giác, ham ngủ, hay mê, thân tâm hôn ám.
 
2021
Minh Đạo
 
hoasen_10
  An Bình Cõi Thế
 
An bình cõi thế rõ là tiên,
Vật chất mong manh chẳng đáng ghiền.
Quen biết bao niềm câu phú vận,
Hiểu thấu nhiêu điều khúc lương duyên.
Dạ sáng không ganh oan rã lắng,
Tình trong hổng hận khó đeo phiền.
Gặp nhau đoạn ngắn vui thông cảm,
Đau buồn chớ để bám triền miên.
 
Như Huyễn Trần (Kính hoạ)
 

hoa_sen (4)

  Tìm Đâu
 
Tìm đâu giữa thế đặng người hiền!
Rõ được duyên nầy những phút yên.
Rộn rã ngày lên vui dạ sáng,
An nhiên chuyện tới nhẹ tâm huyền.
Thêm tình vun hạnh lay đời khắp,
Có bạn xây niềm đến tánh nguyên.
Dẫu hiểu thời gian còn mấy chốc,
Cùng trao nhân nghĩa bớt ưu phiền.
 
2021
Tịnh Thất Liên Hoa (Cảm hoạ)
 

hoa_sen (9)
Ở Đời Vui Đạo 
Kính tặng Bác Minh Đạo
 
Ở đời vui đạo ấy là tiên
Thanh thản thong dong rũ bỏ ghiền 
Sớm tối mong hoà cùng thiện lữ
Trưa chiều nguyện hướng với lành duyên
Tham xan chẳng cột tâm thườnglạc
Chấp trước không giam ý bớt phiền 
Tháng lại ngày qua chướng nghiệp đổi 
Tham thiền tĩnh toạ dứt thuỳ miên.
 
California, 2:15 am, 02-04-2021
Trúc Nguyên-Thích Chúc Hiền ( cảm hoạ)
 




***

facebook-1


***

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
31/08/2010(Xem: 17286)
Em có về cồn phượng là tuyển tập truyện ngắn của nhà văn Hoàng Ngọc Hiển.(Tên thật Trần Ngọc Hiển) Sinh năm 1942 tại Phú Lý, Hà Nam. Di cư vào Sài Gòn năm 1954. Cựu học sinh Chu Văn An. Sinh viên Luật khoa (dở dang). Sinh viên ban Triết Tây, Đại học Văn Khoa (cũng dở dang). Tốt nghiệp khả năng Sư Phạm Trung Cấp, ban Văn Chương. Giáo sư văn chương các trường trung học Côn Sơn, Ngô Quyền, Minh Đức, Trí Đức Sài Gòn và Kỷ Thuật Biên Hòa.
30/08/2010(Xem: 17510)
Nửa đời người tôi hiểu được Vô thường - ấy lẽ thường nhiên Và ta chỉ là chiếc lá Trong rừng nhân loại vô biên..
28/08/2010(Xem: 15927)
Chén cơm trong chốn lao tù, Con xin cúng Phật con tu quá đường ! Thế gian huyết hận đau thương ! Nghẹn nào lệ nhỏ vô phương kêu gào !.
12/08/2010(Xem: 15038)
Nằm ngủ ôm vầng trăng Đồi Cù nghiêng nghiêng mộng Đà Lạt chảy trong thân Tôi như rừng thông im bóng. Em như sương trăng áo mộng Đêm thu xưa quyến hớp hồn tôi.
04/08/2010(Xem: 16143)
Để hướng về Mùa Hiếu Hạnh Thiêng Liêng Để tưởng nhớ công ơn Công Đức Sinh Thành Để cùng nhau nhắc nhở Con Hiền Cháu Thảo Để đền đáp trong muôn một công đức Cha Mẹ Và lễ tạ Thù Ân Bốn Ơn Trọng cưu mang. Chúng tôi xin viết, cảm ơn quý vị đón nhận và phổ biến. Trân trọng, TNT Mặc Giang [email protected]
04/08/2010(Xem: 14800)
Quê tôi còn đó dòng sông Nước đi nước đến chờ con nước về Quê tôi còn đó sơn khê Sắt son tô thắm ước thề không phai Ơn sâu nghĩa nặng tình dài Đường quê lối nhỏ hoa cài thơm hương Tin yêu hòa ái mến thương Chia mưa sẻ nắng gió sương không màng Quê tôi còn đó đò ngang Chờ người lữ thứ miên man chưa về
04/08/2010(Xem: 16555)
Quê Cha ngàn dặm mù khơi Đất Mẹ vạn lý một đời chia xa Thương non, ôm ấp mái nhà Nhớ núi, sầu mộng sơn hà chờ ai Thương sông, con nước chảy dài Nhớ biển, sóng vỗ miệt mài trùng dương Ra đi, vạn lý mù sương Rong rêu in bóng dặm đường phân ly Nhớ xưa, mấy thuở kinh kỳ Mà nay cũng lắm tư nghì hồn đau “Chiều chiều ra đứng ngõ sau Trông về quê Mẹ ruột đau chín chiều”
04/08/2010(Xem: 15122)
Rằng xưa, có Mục Kiền Liên Tu hành giác ngộ, chứng liền lục thông “Thiên nhãn”, “Thiên nhĩ” vô cùng “Tha tâm”, “Thần túc” thỉ chung rõ ràng “Túc mệnh”, “Lậu tận” vô can Đường xuôi lối ngược dọc ngang đi về Mục Liên bèn nhớ Mẫu hề
04/08/2010(Xem: 15028)
Bảy tình (thơ)
16/07/2010(Xem: 27090)
Vừa qua, được đọc mấy bài thơ chữ Hán của thầy Tuệ Sĩ đăng trên tờ Khánh Anh ở Paris (10.1996) với lời giới thiệu của Huỳnh kim Quang, lòng tôi rất xúc động. Nghĩ đến thầy, nghĩ đến một tài năng của đất nước, một niềm tự hào của trí tuệ Việt Nam, một nhà Phật học uyên bác đang bị đầy đọa một cách phi pháp trong cảnh lao tù kể từ ngày 25.3.1984, lòng tôi trào dậy nỗi bất bình đối với những kẻ đang tay vứt "viên ngọc quý" của nước nhà (xin phép mượn từ này trong lời nhận xét của học giả Đào duy Anh, sau khi ông đã tiếp xúc với thầy tại Nha trang hồi năm 1976: "Thầy là viên ngọc quý của Phật giáo và của Việt Nam ") để chà đạp xuống bùn đen... Đọc đi đọc lại, tôi càng cảm thấy rõ thi tài của một nhà thơ hiếm thấy thời nay và đặc biệt là cảm nhận sâu sắc tâm đại từ, đại bi cao thượng, rộng lớn của một tăng sĩ với phong độ an nhiên tự tại, ung dung bất chấp cảnh lao tù khắc nghiệt... Đạo vị và thiền vị cô đọng trong thơ của thầy kết tinh lại thành những hòn ngọc báu của thơ ca.