Truyện Thơ: Vua Hung Ác

18/03/202117:52(Xem: 13338)
Truyện Thơ: Vua Hung Ác

VUA HUNG ÁC

 Vua-Hung-Ac

Tại Ba La Nại một thời

Nhà vua cai trị là người hại dân

Hung tàn, phi pháp, bất nhân

Tạo bao nghiệp ác vô ngần xấu xa

Sưu cao, thuế nặng ban ra

Lại thêm hình phạt thật là gắt gao

Nhân dân bị ép khác nào

Mía trong máy ép, từ bao lâu rồi,

Vua không hề có tình người

Không thương ai cả, dù nơi cung vàng

Nhà vua khe khắt, bạo tàn

Vợ con cùng với các quan u sầu

Coi vua có khác gì đâu

Như là hạt bụi làm đau mắt người

Như là sạn lẫn cơm thôi

Như dao mũi nhọn đâm nơi tay mình.

Một ngày vua chết thình lình

Thế là dân chúng mặc tình sướng vui

Họ cười nói, họ vui chơi

Đón mừng hoàng tử nối ngôi trị vì,

Thi hài vua hoả táng đi

Với ngàn xe củi lửa thì bốc cao

Tro tàn còn chẳng là bao

Dùng trăm ghè nước đổ vào tắt ngay.

Ngai vàng vua mới lên thay

Nhà vua giới đức đó đây chào mừng

Thật hoan hỉ, thật tưng bừng

Hội hè rộn rã, tiệc tùng liên miên

Bà con sung sướng như điên

Khắp nơi trống dội, khắp miền cờ bay

Trên ngai vua thật oai thay

Lính cầm lọng trắng che ngay trên đầu

Oai phong lẫm liệt biết bao

Triều đình, quan lại đứng chầu chung quanh

Vòng ngoài là những lính canh

Cùng đoàn giữ cửa trung thành từ lâu.

*

Một người giữ cửa chợt đâu

Lại than, lại khóc buồn rầu khôn nguôi

Trong khi thiên hạ vui cười

Nhà vua thấy lạ buông lời hỏi han:

“Cha ta vừa mới từ trần

Toàn dân tỏ vẻ vô ngần sướng vui

Chỉ riêng ngươi lại sụt sùi

Cha ta chắc đối với ngươi tốt lành

Và từng yêu mến thật tình?”

Anh chàng gác cửa chân thành vội thưa:

“Tôi nào thương tiếc nhà vua

Khi vua còn sống thường ưa đánh người

Thang lầu lên xuống cạnh tôi

Vua hay ngừng lại và rồi nắm tay

Đánh tôì tám cái đầu này

Nặng như cây búa trong tay thợ rèn,

Qua đời vua chắc chẳng quên

Bên kia thế giới vẫn quen tật này

Đánh đầu người đã quen tay

Thế là vua lại sẽ gây muộn phiền

Những người cõi đó cuồng điên

Nếu mà họ trả vua liền về đây

Nghe mà khủng khiếp lắm thay

Đầu tôi lại bị đánh ngay liên hồi

Nghĩ mà buồn bã đấy thôi

Nên tôi lo lắng để rồi khóc than.”

Vua hiền lên tiếng trấn an:

“Lo chi! Vua đã thành than tro rồi

Ngàn xe củi đốt thân ngài

Cả trăm ghè nước mọi người tưới lên

Lại thêm đào đất bốn bên

Vua còn đâu nữa, chớ nên lo gì,

Chúng sinh khi đã chết đi

Đi luôn theo nghiệp trước kia của mình

Xác thân cũng đã tan tành

Làm sao trở lại quẩn quanh cõi trần

Để mà quấy rối xa gần

Nhà ngươi chớ sợ! Yên tâm từ giờ!”

Anh chàng giữ cửa nghe ra

Trong lòng cảm thấy quả là êm xuôi

Hai dòng lệ hết tuôn rơi

Thay vào là một nụ cười an tâm.

Nhà vua trẻ cai trị dân

Trị vì đúng Pháp, lòng nhân dạt dào

Luôn luôn bố thí đẹp sao

Gây bao công đức, tạo bao phước lành

Đến khi mãn nghiệp của mình

Giã từ dương thế, tái sinh cõi lành.

 

Tâm Minh Ngô Tằng Giao

 

(thi hóa, phỏng dịch theo bản văn xuôi THE TAWNY KING

Trong “Stories Of The Buddha” của Caroline A.F. Rhys Davids)

______________________

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
29/10/2010(Xem: 19428)
Thơ Trong Tuyển Tập Thơ Tuệ Thiền (Lê Bá Bôn) (Trích trong Đường Về Minh Triết; 1989-2005; NXB Văn Nghệ, 2007) --- * Nghìn Câu Thơ Tài Hoa Việt Nam (Bản tái bản lần 4; NXB Hội nhà văn, 2013) Không Đề Chất chứa những cằn nhằn Hồn lô nhô sỏi đá!... Chút lặng thầm hỉ xả Sỏi đá dậy hồn thơ…
29/10/2010(Xem: 16814)
May I be free from enmity and danger, May I be free from mental suffering, May I be free from physical suffering
28/10/2010(Xem: 19888)
Một thương chú tiểu dễ thương Hai thương chú tiểu chọn đường đi tu Ba thương sớm tối công phu Bốn thương chú học và tu đàng hoàng Năm thương chú tiểu nhẹ nhàng Sáu thương chú tiểu đoan trang nụ cười
23/10/2010(Xem: 22436)
Nhiều thế kỷ trước, một vị vua đã lãnh đạo dân tộc Việt Nam hai lần đẩy lui quân Mông Cổ xâm lăng. Một hôm, vào năm 1293, vị vua anh hùng này đã rời ngôi vua, và vài năm sau trở thành một nhà sư và đã để lại một di sản Thiền Tông bây giờ vẫn còn phát triển để trở thành dòng Thiền lớn nhất tại Việt Nam. Ngài tên là Trần Nhân Tông, vị vua thứ ba của Nhà Trần và là vị sáng lập Dòng Thiền Trúc Lâm.
22/10/2010(Xem: 27147)
Vào khoảng các năm 1972–1974, Cố Hòa thượng Thích Trí Thủ, thường được Tăng Ni-Phật tử gọi cung kính gần gũi là “Ôn Già Lam”, đang trong thời gian dài hoằng pháp tại Nha Trang và các tỉnh miền Trung, Ôn tạm an trú trên chùa Hải Đức, nơi có Phật học viện Trung Phần, trên ngọn đồi Trại Thủy. Khoảnh vườn và thềm hiên phía trước tịnh thất của Ôn dần dà trở thành một hoa viên nho nhỏ với nhiều cây cảnh hoa lá đẹp lạ, là nhờ ở bàn tay chăm sóc thương yêu của một vị cao tăng đức độ nhân từ.
21/10/2010(Xem: 19080)
Bướm bay vườn cải hoa vàng , Hôm nay chúng ta cùng đọc với nhau bài Bướm bay vườn cải hoa vàng. Bài này được sáng tác trước bài trường ca Avril vào khoảng năm tháng. Viết vào đầu tháng chạp năm 1963. Trong bài Bướm bay vườn cải hoa vàng chúng ta thấy lại bông hoa của thi sĩ Quách Thoại một cách rất rõ ràng. Đứng yên ngoài hàng dậu Em mỉm nụ nhiệm mầu Lặng nhìn em kinh ngạc Vừa thoáng nghe em hát Lời ca em thiên thâu
20/10/2010(Xem: 16015)
Nếu mai mốt Ba có về thăm lại Con chỉ dùm căn láng nhỏ bên sông Nơi Mẹ sống trong chuỗi ngày hiu quạnh Nặng oằn vai một nỗi nhớ thương chồng
20/10/2010(Xem: 18980)
Nhân-sinh thành Phật dễ đâu, Tu hành có khổ rồi sau mới thành, Ai hay vững dạ làm lành, Chứng-minh trong chốn minh-minh cũng tường.
13/10/2010(Xem: 13222)
Nguyệt lạc Ô Đề sương mãn thiên Giang phong, ngư hoả đối Sầu Miên Cô Tô thành ngoại Hàn-San Tự Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền
12/10/2010(Xem: 16742)
Trách lung do tự tại Tán bộ nhược nhàn du Tiếu thoại độc ảnh hưởng Không tiêu vĩnh nhật sầu.