Tết Đinh Dậu (thơ)

18/03/202117:09(Xem: 9444)
Tết Đinh Dậu (thơ)
hoa dao 2
Xướng:
 

Tết Đinh Dậu
 

Tết đi tết đến đã bao lần,
Chồng chất tuổi đời khổ cái thân, 
Đinh dậu trở về thêm tàn sức, 
Bính thân tạm biệt lại yếu chân. 
Tọa thiền bái sám lưng nhức mỏi, 
Niệm Phật trì kinh cẳng tê đần.
Vũ trụ xoay vần không ngừng nghỉ, 
Thu tàn đông đến lại sang xuân.

* **
Sang xuân thử nghiệm cuộc thế coi,
Đấm đá chi nhau chục năm trời, 
Đứa lớn u đầu, tâm bệnh hoạn, 
Nhóc con gãy cẳng, trí thụt lùi. 
Sức tàn lực tận đòi gánh núi,
Trí thiển ý cùn muốn úp voi.
Vẻ rắn thêm chân coi cũng chán, 
Mừng xuân Đinh dậu chẳng gì vui ?!
 

Mạnh xuân Đinh dậu, mồng Ba tết khai bút
HT.Thích Tín Nghĩa 
 

hoa dao 3
Hoạ:
 
Đông Qua Xuân Đến
Kính họa bài:”Tết Đinh Dậu” của HT. Thích Tín Nghĩa.
 


Đông qua xuân đến biết bao lần
Tuổi hạc càng cao luỵ tấm thân
Đi đứng khó khăn lao nhọc sức
Uống ăn ít ỏi nhức tê chân 
Trì kinh lễ Phật thân đau mỏi
Xướng kệ hô thiền giọng hụt khàn
Dẫu thế công phu không mệt nghỉ
Tinh cần nỗ lực đón mừng xuân.
 
Mừng xuân nguyệt hiện ngắm nhìn coi,
Vạn vật xanh tươi khắp đất trời
Nụ thắm mầm xanh, tai rũ sạch
Hoa thơm trái ngọt, dịch tan lùi
Thanh bình lạc xứ trăng soi núi 
Thịnh trị an dân mộng hiển voi(*)
Cúc nở hoa bừng vơi khổ chán
Phước tràn lộc trĩu đón xuân vui...!
 
California, 12:20 am, 15-03-2021
Hậu Học-Thích Chúc Hiền (kính họa)
————————
Chú thích:(*) Voi tượng trưng cho điềm lành, chiêu tài đón lộc, bảo vệ bình an giúp công việc hanh thông và phát triển....
 


hoa dao

Xuân và Đạo
(Kính hoạ vận)
 
Tết đến thời qua lại mệt thân
Đời nầy gặp đạo khó không chần
Dù trong ngõ hẹp cùng vươn sức
Dẫu phải đường dài cố bước chân
Tiết mới ngày lên lưng cứ mỏi
Kinh huyền pháp khởi trí nào trân
Đâu vì tứ đại suy mà chán
Vạn chuyện quay đều vẫn tiếp xuân.
 
Tiếp xuân lộc biếc vạn người coi
Rạng rỡ bình yên khắp đất trời
Hạnh phúc nhân gian… nương đạo học
Tai ương cõi thế …để thù lùi
Ân Thầy hoá độ cao hơn núi (*)
Pháp Phổ khai truyền diệu tựa voi (**)
Bởi sợ trầm luân đâu dám nghỉ
Đường về cực lạc trải niềm vui…
 
16/3/2021
PT. Minh Đạo (Kính hoạ)
--------------------------
 
(*) Thầy (Một trong mười danh hiệu Phật)
(*) Núi: Núi Tu Di chỉ là một biểu tượng, tượng trưng cho sự to lớn, vĩ đại. Cũng như trong kinh Phật hay dùng thuật ngữ cát sông Hằng
(**) Con Voi trắng mà Bồ Tát Phổ Hiền cưỡi là để biểu hiện lòng đại từ. Sáu ngà Voi biểu hiện cho “lục độ” (6 phương pháp đến bờ bên kia để giải thoát sinh tử luân hồi, gồm: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ).
 
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
18/10/2016(Xem: 12029)
Có tâm hỷ là vui mừng không khổ - Hỷ ở đây tức vui với mọi người- Thấy điều lành nghe việc thiện vui tươi- Người thành tựu như chính mình làm được
18/10/2016(Xem: 10819)
Khi tâm xả là không còn chấp thủ Xả bỏ đi chuyện tốt xấu khen chê Buông bỏ điều từng đắm nhiễm đam mê Gây trở ngại đem đến nhiều phiền phức
18/10/2016(Xem: 11938)
Đêm khuya bước ra cửa Nhìn trăng sáng trời cao Ta chắp tay đứng lặng Lòng cảm xúc dâng trào .
16/10/2016(Xem: 11356)
Bi là giúp chúng sanh lìa đau khổ- Được ấm no bớt những cảnh cơ hàn- Hết khó khăn không còn phải gian nan- Sống vững chãi giữa cuộc đời xao động
15/10/2016(Xem: 12961)
Từ có nghĩa giúp chúng sanh an lạc - Không phân chia kẻ lạ hay người thân- Không so đo không tính toán xa gần- Tôn trọng hết mọi loài cùng vạn vật
12/10/2016(Xem: 10432)
Rồi một ngày sẽ đến Thân xác này rã tan Đất trở về với đất Còn chi nữa mà tham.
07/10/2016(Xem: 14373)
Chùm Tứ Cú Lục Bát có Nụ Cười hưởng ứng. Chào ngày mới Chào nhau ngày mới nắng vàng Từng tia hi vọng ấm tràn ước mơ Chào nhau ngày mới bài thơ Tiễn ngày qua đã trống trơ tiếng cười.
07/10/2016(Xem: 17300)
Vào Thu đọc thơ Nguyễn Du: Hai bài thơ mang tên Thăng Long của Nguyễn Du Một phần nghiên cứu dịch văn bản thơ chữ Hán Nguyễn Du qua bài Thăng Long 昇龍 [1] Tản mạn nhận diện Quốc hiệu Việt Nam trong ý thơ của bài thơ Thăng Long Khái niệm lịch sử của Thăng Long Thăng Long, là kinh thành - kinh đô của đất nước Đại Việt, từ vương triều Lý , (gọi là nhà Lý hoặc Lý triều, 1009-1225) cho đến triều đại nhà Lê Trung Hưng (1533-1789), tổng cộng 564 năm[2]. Thăng Long cũng được hiểu và được biết đến trong lịch sử vốn là địa danh tên cũ của Hà Nội hiện nay. Thăng Long nghĩa là “rồng bay lên” theo nghĩa Hán-Việt, hay 昇隆[4] nghĩa là “thịnh vượng”. Từ Thăng Long: “昇隆” là từ đồng âm với tên “昇龍: Thăng Long”, nhưng mang nghĩa khác với “昇龍”.
07/10/2016(Xem: 12675)
Hoàng cung cảnh đẹp vô cùng- Hoa thơm, cỏ lạ một vùng tươi xinh- Có hòn non bộ hữu tình- Có hồ bán nguyệt in hình trời mây
07/10/2016(Xem: 10167)
Anh chàng Đại Lãng thuở xưa- Có tài đô vật rất ư tuyệt vời- Lại thêm sức mạnh hơn người,- Khi trong nội bộ ngay nơi viện nhà