Bảy Cách Bố Thí (thơ)

14/08/202015:16(Xem: 13645)
Bảy Cách Bố Thí (thơ)



nu cuoi
BẢY CÁCH BỐ THÍ

Dù ta không có bạc tiền
Vẫn còn bảy thứ để đem tặng người.
*
Một là “
nhan thí”: nụ cười
Tặng bằng nét mặt vui tươi của mình
Hân hoan, niềm nở, chân thành
Miệng cười gieo mối cảm tình muôn nơi.

Hai là “ngôn thí”: đẹp lời
Tặng bằng câu nói khiến người an nhiên
Ngợi khen, khích lệ, động viên
Nói lời an ủi, dịu êm tâm hồn.

Ba là “tâm thí”: tấm lòng
Tặng bằng đối đãi tốt cùng thế nhân
Lòng mình rộng mở, thành tâm
Khiến cho cuộc sống muôn phần đẹp thêm.

Bốn là “nhãn thí”: cái nhìn
Tặng bằng ánh mắt dịu hiền, thân thương
Tâm từ tỏa rạng thơm hương
Nhìn bằng thiện ý mười phương an nhàn.

Năm là “thân thí”: việc làm
Tặng bằng hành động bản thân của mình
Giúp người một cách nhiệt tình
Với lòng nhân ái, chân thành khôn vơi.

Sáu là “tọa thí”: chỗ ngồi
Tặng bằng nhường chỗ cho người đứng quanh
Nơi mình ngồi chẳng cần giành
Ai mà cần chỗ thời mình nhường thôi.

Bảy là “phòng thí”: tặng người
Cho người cần chốn nghỉ ngơi qua ngày
Mình đem phòng trống trải này
Mời người an nghỉ, lòng đầy thiết tha.
*
Chúng sinh trong cõi ta bà
Theo lời Phật dạy như là kể trên
Dù tay trắng, chẳng bạc tiền
Nhớ còn bảy thứ đó đem tặng người
Vận may sẽ đến tuyệt vời
Như hình với bóng! Cuộc đời an vui!

Tâm Minh Ngô Tằng Giao
________________________________________________

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
18/10/2016(Xem: 12019)
Có tâm hỷ là vui mừng không khổ - Hỷ ở đây tức vui với mọi người- Thấy điều lành nghe việc thiện vui tươi- Người thành tựu như chính mình làm được
18/10/2016(Xem: 10786)
Khi tâm xả là không còn chấp thủ Xả bỏ đi chuyện tốt xấu khen chê Buông bỏ điều từng đắm nhiễm đam mê Gây trở ngại đem đến nhiều phiền phức
18/10/2016(Xem: 11910)
Đêm khuya bước ra cửa Nhìn trăng sáng trời cao Ta chắp tay đứng lặng Lòng cảm xúc dâng trào .
16/10/2016(Xem: 11339)
Bi là giúp chúng sanh lìa đau khổ- Được ấm no bớt những cảnh cơ hàn- Hết khó khăn không còn phải gian nan- Sống vững chãi giữa cuộc đời xao động
15/10/2016(Xem: 12939)
Từ có nghĩa giúp chúng sanh an lạc - Không phân chia kẻ lạ hay người thân- Không so đo không tính toán xa gần- Tôn trọng hết mọi loài cùng vạn vật
12/10/2016(Xem: 10421)
Rồi một ngày sẽ đến Thân xác này rã tan Đất trở về với đất Còn chi nữa mà tham.
07/10/2016(Xem: 14355)
Chùm Tứ Cú Lục Bát có Nụ Cười hưởng ứng. Chào ngày mới Chào nhau ngày mới nắng vàng Từng tia hi vọng ấm tràn ước mơ Chào nhau ngày mới bài thơ Tiễn ngày qua đã trống trơ tiếng cười.
07/10/2016(Xem: 17241)
Vào Thu đọc thơ Nguyễn Du: Hai bài thơ mang tên Thăng Long của Nguyễn Du Một phần nghiên cứu dịch văn bản thơ chữ Hán Nguyễn Du qua bài Thăng Long 昇龍 [1] Tản mạn nhận diện Quốc hiệu Việt Nam trong ý thơ của bài thơ Thăng Long Khái niệm lịch sử của Thăng Long Thăng Long, là kinh thành - kinh đô của đất nước Đại Việt, từ vương triều Lý , (gọi là nhà Lý hoặc Lý triều, 1009-1225) cho đến triều đại nhà Lê Trung Hưng (1533-1789), tổng cộng 564 năm[2]. Thăng Long cũng được hiểu và được biết đến trong lịch sử vốn là địa danh tên cũ của Hà Nội hiện nay. Thăng Long nghĩa là “rồng bay lên” theo nghĩa Hán-Việt, hay 昇隆[4] nghĩa là “thịnh vượng”. Từ Thăng Long: “昇隆” là từ đồng âm với tên “昇龍: Thăng Long”, nhưng mang nghĩa khác với “昇龍”.
07/10/2016(Xem: 12634)
Hoàng cung cảnh đẹp vô cùng- Hoa thơm, cỏ lạ một vùng tươi xinh- Có hòn non bộ hữu tình- Có hồ bán nguyệt in hình trời mây
07/10/2016(Xem: 10141)
Anh chàng Đại Lãng thuở xưa- Có tài đô vật rất ư tuyệt vời- Lại thêm sức mạnh hơn người,- Khi trong nội bộ ngay nơi viện nhà