Thơ: Đường vào biển Pháp

14/04/202015:22(Xem: 10176)
Thơ: Đường vào biển Pháp

Phat thich ca 2b
Đường vào biển Pháp 

Kính bạch Thầy thật rùng mình khi học lại đoạn kinh trong Pháp diệt tận và thấy có nhiều sự trùng hợp cho thế kỷ này và lại ngưỡng mộ vì sao Thầy mỗi sáng lại livestream cho chúng con thọ trì kinh Lăng Nghiêm . Kính xin Thầy cho con trích đoạn trong “Phật Học tinh yếu “ và bài thơ này để cùng bạn hữu thấy được Ân Đức của Thầy Tổ đã đem lời dạy của Phật đến cho hậu thế và công ơn của Tăng thân đã dìu dắt hàng hậu bối chúng con . Kính HH


Đường vào biển pháp qua bao lĩnh vực.
Trước tiên là vững chắc một niềm tin ,
Ngày ngày chuyên cần học luật, luận, kinh .
Rồi chiêm nghiệm thực hành tự mình thân chứng!

 
Nhờ thọ giáo Đại thiện tri thức chỉ hướng
Thấy đến nơi có quả báo , nghiệp duyên .
Ân đức Thầy Tổ chỉ dạy thâm uyên ,
Phước phần nào tìm ra “Phật học tinh yếu”.

 
Từng trang một chỉ bày điều vi diệu .
Thế Tôn siêu việt thuyết giảng mấy nghìn năm ,
Phải đợi đúng thời đúng lúc mới nhập tâm .
Bất tư nghì ... những gì Ngài tiên lượng .

 
Úc Châu cũng tuỳ duyên hoằng pháp cao thượng
Không để Lăng Nghiêm mai một lúc này ,
Theo gương Thầy trì tụng mỗi sớm mai .
Cho Đạo pháp luôn bừng sáng không tắt lửa !
Dù phải chờ Phật Di lặc triệu năm nữa ..

 
Huệ Hương
 
***


phat hoc tinh yeu-ht thien tam


Trích từ “ Phật học tinh yếu"

Soạn giả: HT Thích Thiền Tâm

THIÊN THỨ NHÌ VÀ BA
CHƯƠNG 5 : Từ ĐỨC THÍCH CA đến PHẬT DI LẶC  ( trang 204 - 208)



Trong kinh Pháp Diệt Tận , Đức Phật bảo : “ Về sau, khi pháp của ta sắp diệt nơi cõi ngũ trược này tà đạo nổi lên rất thạnh . Lúc ấy có những quyến thuộc của ma giả làm sa môn để phá rối đạo pháp của Ta . Họ mặc y phục như thế gian, ưa thích áo cà sa năm sắc, ăn thịt sát sanh , uống rượu, tham trước mùi vị , không có từ tâm tương trợ lại sanh ghét lẫn nhau. Bấy giờ có các vị Bồ Tát , Bích Chi, La Hán vì bản nguyện hộ trì Phật Pháp hiện thân làm sa môn, tu hành tinh tấn, đạo hạnh trang nghiêm, được mọi người kính trọng . Các bậc ấy có Đức thuần hậu, từ ái, nhẫn nhục, như hoà, giúp đỡ kẻ già yếu cô cùng hằng đem kinh tượng phụng thờ, đọc tụng...giáo hoá chúng sanh một cách bình đẳng, tu nhiều công đức không nệ tổn mình lợi người.

Khi có những vị sa môn đạo đức như thế, các Tù khưu ma kia ganh ghét phỉ báng, vụ cho những điều xấu, dùng đủ cách lấn áp xua đuổi, hạ nhục khiến cho không được ở yên . Từ đó các Tỳ khưu ác càng lộng hành, không tu đạo hạnh, bỏ chùa chiền điêu tàn hư phế , chỉ lo tích tụ tài sản riêng làm các nghề không hợp pháp để sanh sống... làm tổn hại chúng sanh không có chút từ tâm . Lúc ấy có nhiều kẻ thiếu đạo đức xuất gia làm tăng ni tham nhiễm sống lẫn lộn . Phật pháp suy vi là chính bọn này. Lại có những kẻ trốn pháp vua quan, lẫn vào cửa đạo rồi sanh tâm biếng nhác không học không tu . Đến kỳ tụng giới trong mỗi nửa tháng họ chỉ lơ là găng gượng không chịu chuyên chú lắng nghe. Nếu có thuyết giảng giới luật, họ lược bỏ trước sau không chịu nói ra hết.

Nếu có đọc tụng kinh văn, họ không rành câu chữ, không tìm hỏi bậc cao minh, tự mãn cầu danh, cho mình là phải. Tuy thế, bề ngoài họ cũng ra vẻ đạo đức, thường hay nói phô để hy vọng mọi người cúng dường. Các Tỳ khưu ma này sau khi chết sẽ đoạ vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh trải qua nhiều kiếp. Khi đền tội xong, họ thác sanh làm người ở nơi biên địa không có Tam Bảo .

Lúc Phật Pháp sắp diệt người nữ phần nhiều tinh tấn, ưa tu những công đức. Trái lại người nam phần nhiều kém lòng tin, thường hay giãi đãi khinh mạn, không thích nghe pháp, không tu Phước Huệ , khi thấy hàng sa môn thì rẻ rúng chê bai xem như đất bụi.

Lúc ấy do nghiệp ác của chúng sanh, mưa nắng không điều hoà, ngũ sắc hư hao tàn tạ bịnh dịch lưu hành, người chết vô số .
Thời bấy giờ hàng quan liêu phần nhiều khắc nghiệt tham ô, lớp dân chúng lại nhọc nhằn nghèo khổ , ai nấy chỉ biết ngậm đắng nuốt cay .
Trong thế gian lúc ấy khó tìm được người lượng thiện, còn kẻ ác thì nhiều như cát ở bãi biển, đạo Đức suy đồi , Chư Thiên buồn thương rơi lệ .
Này A Nan ! Lúc đạo pháp ta sắp diệt ngày đêm rút ngắn, con người đoản mệnh, nhiều kẻ mới 40 tuổi trên đầu tóc đã điểm bạc. Về phần người nam, bởi nhiều dâm dật nên hay chết yểu, trái lại người nữ sống lâu hơn . Lúc ấy có nhiều tai nạn nổi lên như giặc cướp, bịnh tật, bão lụt nhân dân không tin hiểu đó là nghiệp báo, hoặc vì đã từng sống quen trong cảnh ấy nên xem như là việc thường .

Bấy giờ nếu có bậc Bồ Tát, Bích Chi, La Hán dùng bi tâm ra giáo hoá, do nghiệp ác của chúng sanh và sức ngoại ma xua đuổi cũng ít ai đến dự pháp hội . Các bậc tu hành chân chính, phần nhiều ẩn cư nơi núi rừng xa vắng, giữ đời sống đạm bạc được Chư Thiên hộ trì.

Khi Nhơn thọ giảm còn 52 tuổi, áo cà sa của hàng sa môn đổi thành sắc trắng, kinh Thủ Lăng Nghiêm và Bát Chu Tam Muội tiêu diệt trước, các kinh khác lần lần diệt sau cho đến không còn văn tự .

Nầy A Nan! Như ngọn đèn dầu trước khi sắp tắt , ánh đèn bỗng bừng sáng lên rồi lu mờ và mất hẳn Đạo pháp ta đến lúc tiêu diệt cũng có tướng trạng như thế.

Từ đó về sau trải qua triệu triệu năm mới có Phật Di Lặc ra đời giáo hoá chúng sanh .
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
02/02/2026(Xem: 2108)
Có đôi khi trong cuộc sống …nếu bị nhiều mệt mỏi quá lại là không cần thiết nhất là vì những việc mà chẳng hề quan trọng, cũng không đến từ việc phải sống thế nào để an yên mà đến từ việc phải trở thành một ai đó trong đầu mình .
30/01/2026(Xem: 1981)
Nhà hiền triết Krishnamurti đã nhắc nhở gì cho nhân loại hôm nay? Thích Phước An Tôi còn nhớ hồi giữa thập niên 60 của thế kỷ trước, nhà xuất bản An Tiêm đã cho ra đời tác phẩm Tự do đầu tiên và cuối cùng (The First and Last Freedom) của Krishnamurti do Phạm Công Thiện dịch. Mở đầu tác phẩm, dịch giả còn dịch bài viết của Henry Miller, văn hào hàng đầu nước Mỹ thời bấy giờ, trong đó có đoạn Henry Miller tóm tắt tư tưởng của Krishnamurti như thế này: “Con người là kẻ tự giải phóng chính mình”, phải chăng đó là đạo lý tối thượng của đời sống? Biết bao bậc hiền nhân trác việt đã nhắc nhở và đã thể hiện bao lần giữa lòng đời? Họ là những đạo sư, những con người đã làm lễ cưới của đời sống, chứ không phải những nguyên tắc, tín điều, luân lý, tín ngưỡng. Những bậc đạo sư đúng nghĩa thì chẳng bao giờ bày đặt ra lề luật hay giới luật, họ chỉ muốn giải phóng con người. Điều làm nổi bật Krishnamurti và nói lên sự khác nhau giữa Krishnamurti và những bậc giáo chủ vĩ đại tro
30/01/2026(Xem: 1675)
MEISTER ECKHART, sinh tại nước Đức, là nhà thần bí vĩ đại của Thiên Chúa Giáo thời Trung Cổ. Sự xuất hiện của Eckhart đả làm đảo lộn những người đi trước ông. D.T Suzuki trong Mysticism, Christian and Buddhist[*] đã nói rằng, lần đầu tiên khi đọc Eckhart, ông đã xúc động tràn trề, và D. T. Suzuki cho rằng, Eckhart đúng là “một tín đồ Thiên Chúa Giáo phi thường” và Thiên Chúa Giáo của Eckhart, D.T. Suzuki nghĩ là “thật độc đáo và có nhiều điểm khiến chúng ta do dự không muốn xếp ông thuộc vào loại mà ta thường phối hợp với chủ nghĩa hiện đại duy lý hóa hay chủ nghĩa truyền thống bảo thủ. Ông đứng trên những kinh nghiệm của riêng mình, một kinh nghiệm phát sinh từ một tư cách phong phú, thâm trầm, và đạo hạnh” Và như vậy D.T. Suzuki viết tiếp về Eckhart: “Ông cố hóa giải những kinh nghiệm ấy với cái loại Thiên Chúa Giáo lịch sử rập khuân theo những truyền kì và huyền thoại. Ông cố đem cho chúng một ý nghĩa ‘bí truyền’ hay ‘nội tại’ và như thế ông bước vào những địa vực mà đa số những tiề
30/01/2026(Xem: 1627)
Đây là bút ký của thầy Thích Phước An viết về ngài Tuệ Sỹ, mà thầy vừa mới gởi cho tôi chiều qua. Tôi đã từng, hơn một lần, đọc lại những bài viết hay, viết về ngài Tuệ Sỹ, lúc ngài viên tịch hôm 24.11.2023 vừa qua tại chùa Phật Ân, trong đó có bài này của thầy Thích Phước An – Thơ Tuệ Sỹ, Tiếng Gọi Của Những Đêm Dài Heo Hút. Văn hay thì đọc lại bao lần cũng hay. Đó là chưa kể, đây là một áng văn rất thơ của một nhà sư, viết về một nhà sư. Thầy Thích Phước An và ngài Tuệ Sỹ, vốn là huynh đệ, gắn bó cùng nhau đã từ lâu lắm trên bước đường tu hành. Thân thiết với ngài Tuệ Sỹ, có lẽ chẳng ai bằng thiền sư Lê Mạnh Thát, cùng các huynh đệ của ngài, trong đó, có một người luôn kề cận, từ lúc còn gian khó của gần năm mươi năm về trước, cho đến khi ngài mất, đó là thầy Thích Phước An.
24/01/2026(Xem: 2139)
Bính Ngọ Xuân về tỏa ngát hương Hoa ngàn cỏ nội đẹp muôn phương Yên bình vũ trụ qua tai chướng Tĩnh tại mây trời lắng họa vương Thế sự chan hòa xa ác tưởng Nhân dân vững mạnh hướng an tường Nghĩa ân mầu nhiệm lòng luôn dưỡng Phật pháp thâm huyền phát nguyện nương..!
23/01/2026(Xem: 1628)
Một lần tịch tĩnh rừng hoang Sao Mai huyền diệu óng vàng trời đêm Cỏ lau thức giấc êm đềm Khuya bên bếp lạnh khưi niềm ủ tro Tâm tư hạt thóc rợp cờ Viễn trình sinh tử phất phơ năm màu Nỗi hờn tủi nhục tan mau
22/01/2026(Xem: 1323)
Hai ngàn năm Thế Tôn khuất bóng Lời dạy xưa còn vọng đến nay Chỉ là nắm lá trong tay Vẫn tròn huệ mạng Như Lai ba đời Đúng diệu pháp, một lời cũng đủ Đủ bao hàm pháp nhũ Phật thân Một lời như thật, như chân Cho ra diệu dụng vạn lần hư ngôn Biển trầm luân sóng dồn gió dập
20/01/2026(Xem: 1558)
QUÁN Mắt trông năm cùng tháng tận Ngắm dòng sống hiểu thực hư Không gian không ngừng tĩnh động Sáu thời vẫn vậy phù hư. LẶNG Xập xình hòa vui tiếng nhạc Xóm quê thay sắc rộn ràng Hẻm cùng gió tung bụi rác Thi nhân ngưng nhịp gác đàn.
15/01/2026(Xem: 1847)
chén cơm tù cúng Phật xiềng xích hóa bụi tro hư không nhập lòng đất trăng trời trải ngàn hoa chén cơm chiều nguội ngắt tâm ý vẫn trắng trong khói nào cay đôi mắt khưi thơ chảy tuôn dòng
13/01/2026(Xem: 2442)
Tuệ Nhân vững chãi cuộc đăng trình Cùng với tăng đoàn trải nghiệm linh Tâm ước mong cho thế giới thịnh Ý nguyền muốn được quốc gia vinh Từ bi chẳng nản trong sương lạnh Hỷ xả không màng dưới nắng hanh Thẳng tiến đường xa ngàn bộ dặm Thong dong tự tại bước yên bình. .!