Chùa Thánh Duyên (thơ)

12/10/201920:28(Xem: 11956)
Chùa Thánh Duyên (thơ)
tam-quan-chua-Thanh-Duyen

Chùa Thánh Duyên


Trường giang thuỷ một màu xanh biên biếc
Tháp Điều Ngự ngự trên đỉnh Thuý Vân
Ngôi Thánh Duyên toạ trong sông ngoài biển
Khắp tứ bề sắc nước rạng như xuân

Chóp núi cao, tần khí thiêng chất ngất
Chim trời reo tán thán Phật vang lừng
Nhìn xa xa cảnh trường đàm sương phủ
Tựa thuyền trôi giữa mây nước mênh mông

Sông biển hợp rạng trùng dương bích ngọc
Rừng cây xanh hồn sắc tứ đế vương
Hồi chuông khuya dần vơi bao tang tóc
Nhịp mõ đều chuyển tải niệm yêu thương

Ngôi cổ tự toát lên năng lượng sống
Từ rừng cây từ nhịp thở thiêng liêng
Mang chất liệu dòng từ bi tuệ giác
Của đoá sen hương vị toả chân thiền.

Tuệ Minh-Thích Phước Toàn
Núi Thuý Vân-Huế, September 13, 2019



Ghi chú:
Chùa Thánh Duyên, ngôi cổ tự toạ lạc trên đỉnh núi Thuý Vân, nhìn xuyên xuống tưởng chừng như nước sông biển được bao quanh bởi cửa Tư Hiền sát bên cạnh, thuộc xã Vinh Hiền, huyện Phú Lộc, Thừa Thiên Huế, do chúa Nguyễn Phúc Chu xây dựng vào cuối thế kỷ XVII, mà sau này người dân trong vùng quen gọi là Chùa Tuý Vân. (Có lẽ họ đọc trại từ Thuý thành Tuý chăng?) Đến thời vua Minh Mạng trùng tu vào năm 1826 & 1836. Vua Thiệu Trị tiếp tục trùng tu năm 1841 và xếp vào hạng thắng cảnh thứ 9 của đất Cố Đô Huế.
https://www.facebook.com/100012829421545/posts/766885460415761?sfns=mo


quoc tu thanh duyen
Quốc tự Thánh Duyên

Thừa Thiên Huế có 4 ngôi chùa được vinh danh là quốc tự đó là Thiên Mụ, Diệu Đế, Giác Hoàng và Thánh Duyên. Nếu như 3 ngôi chùa kia đều tọa lạc tại kinh thành Huế thì chùa Thánh Duyên lại tọa lạc tại một nơi khá xa kinh thành: núi Thúy Vân thuộc xã Vinh Hiền, huyện Phú Lộc ngày nay.

 

Núi Thúy Vân nằm ở ven cửa biển Tư Hiền, xưa còn có tên gọi là Tư Dung. Đây là một trong hai ngọn núi cuối cùng của dãi cát ven biển chạy từ Bắc vào Nam. Núi Thúy Vân không cao lắm, chỉ cách mặt nước biển và mặt phá Tam Giang chừng hơn 40 m.Theo “Đại Nam nhất thống chí” thì vào năm 1648, chúa Nguyễn Phúc Tần tuần du qua phá Tam Giang và phát hiện ra một thảo am nhỏ. Ông đã cho dựng một ngôi chùa nhỏ trên nền thảo am xưa để làm nơi cầu phúc cho muôn dân. Trải qua bao năm binh hỏa, chùa bị bỏ hoang đến năm Minh Mạng thứ 6 tức là năm 1825 vua qua đây và cho xây dựng lại chùa. Nhưng phải đến năm 1836, vua mới cho xây dựng chùa một cách hoàn chỉnh gồm 1 chùa, 1 gác, 1 tháp. Chùa gọi là Thánh Duyên, gác gọi là Đại Từ, tháp gọi là Điều Ngự. Nhà vua cũng ban 2 câu đối về tên của chùa như sau: “Thánh tức thị Phật, Phật tức thị thánh, hữu thị Thánh, phương khai Phật pháp chi sùng thâm- Duyên bổn thị nhân, nhân bổn thị duyên, hữu thị duyên, nãi khuyếch thiện nhân chi quảng bị”; dịch nghĩa là: “Thánh tức là phật, Phật tức là thánh, bởi có thánh hiền mới khai tỏ Phật pháp thâm sâu- Duyên gốc tại nhân, nhân gốc tạ duyên, hễ có nhân đức mới mở rộng thiện duyên khắp nẻo”.

quoc tu thanh duyen
Tháp Điều Ngự tọa lạc trên đỉnh núi Túy Vân




Ngoài hệ thống kiến trúc mang đậm dấu ấn của phong cách kiến trúc triều Nguyễn, chùa Thánh Duyên còn có 113 cây cổ thụ có tuổi thọ từ 200 - 300 năm như thông, xoài, mù u, mít nài, mít, dầu lai, lim... Thầy trụ trì Thích Minh Chính cho rằng, những cây thông cổ thụ hiên ngang giữa trời như lời thơ của thi hào Nguyễn Công Trứ: “Kiếp sau xin chớ làm người - Làm cây thông đứng giữa trời mà reo” cũng chính là biểu tượng của ngôi quốc tự này.

Đường lên chùa chạy giữa những cây thông cổ thụ, rộng khoảng 5m, dài khoảng 50m, có tất cả 38 bậc tam cấp.Cả 3 kiến trúc là chùa, gác và tháp trải qua mấy trăm năm vẫn còn tồn tại và đã được trùng tu. Riêng tháp Điều Ngự, tọa lạc trên đỉnh núi mà từ đây có thể phóng tầm mắt nhìn toàn cảnh phá Tam Giang, cửa biển Tư Hiền và xa xa là Bạch Mã sơn. Mặc dù đã được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia hơn 10 năm nay, nhưng việc hệ thống cây cối, kiến trúc của chùa đang bị xuống cấp hay tình trạng lấn chiếm vành đai quanh chùa của một số người dân vẫn diễn ra là điều đáng quan ngại.

Quốc tự Thánh Duyên trên Thúy Vân sơn là một dấu ấn đậm nét của quá trính mở mang bờ cõi của ông cha xưa. Ngôi chùa này từng là nơi nhiều vị vua triều Nguyễn thành tâm đảnh lễ cầu cho quốc thái dân an. Một di sản về lịch sử văn hóa của dân tộc nằm khuất nẻo và ít người biết đến đang cần được bảo tồn...

Phi Tân 
Giac Ngo Online





Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
20/04/2021(Xem: 34352)
Kính bạch chư Tôn Đức, Thưa chư Pháp hữu, nhân mùa Phật Đản PL 2565, Viên Giác Tùng Thư Đức Quốc có ấn hành Đặc San Văn Hóa Phật Giáo chủ đề Chuyển hóa Khổ đau để chào mừng ngày Đản Sanh của Đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni lần thứ 2645. Đặc San năm nay (lần thứ ba) được sự góp mặt của 50 văn thi sĩ và 3 họa sĩ trong và ngoài nước. Chúng tôi kính gởi đến quý Trang Nhà để nhờ phổ biến rộng rãi đến mọi độc giả gần xa. Độc giả muốn mua sách in có thể đặt trực tiếp trên mạng toàn cầu Amazon: https://www.amazon.de/gp/product/1716272939/ref=dbs_a_def_rwt_bibl_vppi_i7 Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật Kính Mail Nhóm Chủ Biên Phù Vân - Nguyên Đạo - Nguyên Minh
17/04/2021(Xem: 8583)
Sắc chẳng khác không, không nào khác sắc Sắc tức là không, "sắc không" đồng nhau Không ấy chẳng sanh, cũng chẳng diệt đâu Cho nên sắc ấy nào có sanh diệt
17/04/2021(Xem: 8907)
Dòng sông in bóng hàng dừa Chim kêu dẫn lối vào chùa tịnh yên Rồi kia: Phổ Tế cửa thiền Vùng quê Lư Cấm thân quen gốm nhà
16/04/2021(Xem: 10659)
Kính bạch Thầy, do các bài thơ trình pháp về Tổ Sư Thiền càng về sau càng đi về công án nên con rất thích sưu tầm và tư duy . Nhân có trong tay 43 công án của Vua Trần Thái Tông do Sư Ông Làng Mai Thích Nhất Hạnh ghi lại con có bài thơ sau như bắt đầu tìm hiểu thêm . Kính mời Thầy xem cho vui vì con mới bắt đầu a b c để đi vào từng bước một . Kính chúc sức khỏe Thầy, HH Thượng đường giảng dạy chư Tổ Sư . Bao nhiêu công án ... quả không dư ! Tiếc ... trí vô sư chưa hiển lộ , Chừng nào rốt ráo được chữ NHƯ ? Giáo kinh, ngữ lục chưa niêm được ! Chưa hết phân vân ... vốn phàm tư! Khi nào vượt qua chỗ thấy biết Kệ tụng 4 câu ... ngộ THÁI HƯ !!!
14/04/2021(Xem: 20416)
Ai đã từng làm bạn với Lưu Linh, một anh chàng uống rượu như hũ chìm trong các điển tích thơ văn? Ai đã từng làm “thơ say“ truyền cảm xúc cho những người chưa từng biết uống rượu ? Kể ra chắc nhiều vô số! Nhưng siêu đẳng vẫn là thi sĩ họ Vũ tên gọi Hoàng Chương với bài thơ say bất hủ, chỉ cần đọc lên hai câu là đã thấy tinh tú quay cuồng rồi: Em ơi, lửa tắt bình khô rượu. Đời vắng em rồi... say với ai?
10/04/2021(Xem: 9183)
Kính bạch Thầy , bài trình pháp có quên 4 câu thư pháp về chữ Tâm của Thầy đọc thật hay ... Con chợt nghĩ ra bài thơ sau để bổ túc Nghe pháp thoại hết hiểu lầm .. Tâm và Tri Giác ! Giúp rõ ràng phân biệt đâu vọng, đâu chân ! Nhiều câu thơ thâm thuý ...đã xuất thần Kính ghi lại ... mời tri âm tri kỷ thưởng thức : “ Chữ Tâm độc tự thế mà hay Thành bại nên hư bởi chữ này Tuổi trẻ gắng lên ... Già cố giữ Cuộc đời gói gọn cả vào đây “
10/04/2021(Xem: 8231)
Giữa canh tư ngồi thu mình yên lắng, Vạn vật chung quanh ...dường như có linh hồn? Thắp ngọn nến hồng, lung linh tiếng vô ngôn Thông cảm cho phận người Canh cô, Mậu quả!
07/04/2021(Xem: 14090)
Nghe tiếng chim Cu phương trời viễn xứ Chạnh lòng ta miền cố xứ xa xôi ! Áo vai mỏng, gót mòn đời lữ thứ, Nẽo mây ngàn còn đọng bóng chiều trôi.
04/04/2021(Xem: 11400)
Theo Kinh Bi Hoa, tiền thân của Bồ Tát Phổ Hiền là Thái tử Năng Đà Nô, con thứ tư của Vua Vô Tránh Niệm. Nghe lời phụ vương, Thái tử phát tâm cúng dường Đức Phật Bảo Tạng cùng chư Tăng trong ba tháng An cư kiết Hạ. Quan đại thần là Bảo Hải mới khuyên Thái tử hồi hướng công đức về đạo Vô Thượng Bồ Đề, cầu thành Phật hơn là phước báu hữu lậu nhân thiên. Thái tử nghe lời và trước Đức Phật Bảo Tạng, đã phát nguyện hồi hướng Đạo Vô Thượng Chánh Giác, phát Bồ Đề tâm, tu tập vô lượng hạnh nguyện Bồ Tát mà giáo hóa mọi loài chúng sanh, cầu chứng ngôi Phật đạo và nguyện đặng cõi Phật rất thanh tịnh trang nghiêm, bao nhiêu những sự tốt đẹp và sự giáo hóa chúng sanh đều y như thế giới của Phổ Hiền Như Lai.
04/04/2021(Xem: 8085)
Sống giữa dương trần tựa chốn tiên, Thênh thang chẳng vướng dạ an ghiền. Sáng lên Đường luật vui bằng hữu, Chiều xuống bồ đoàn tĩnh chút duyên. Được thế cơ may đừng để cạn, Hờn chi phận mỏng phải mang phiền. Xuân qua hạ đến thời thay đổi, Hiểu rõ từng ngày giảm thụy miên. (*)