Tứ cú lục bát “NƯƠNG” (tho)

13/07/201915:54(Xem: 11597)
Tứ cú lục bát “NƯƠNG” (tho)

Tứ cú lục bát “NƯƠNG”

 man-duong-hong-001

THIỀN

Mệt nhoài lăn giữa vô minh
Lục dục nghịch cảnh, thất tình chướng duyên
Nương theo hít thở cùng Thiền
Đón đưa vọng tưởng tâm yên với đời.

 

 

NẤP NƯƠNG

Đất cha vườn tổ chưa về
Bóng cây lẻ bạn chiều quê mơ màng
Nấp nương dưới ánh đạo vàng
Ngày mai quẫy gánh lên đàng vượt qua...

 

CHỐN 

Lênh đênh thân phận hoa bèo
Đạn bom chia cắt, khổ nghèo chia ly
Bèo trôi hoa dạt lất lây
Chốn nương thân đến báo ngày bình yên!

 HÁT NHỚ

Gang tay đo nỗi nhớ dài
Đo tình nương náu hình hài xa xôi
Câu hò gửi gắm dòng trôi
Còn đây bài lý riêng tôi hát buồn.

 

 

LIÊU TRAI CHÍ DỊ

LIÊU xiêu vách đất mái rơm
TRAI phòng cắm cúi tóc bờm bút nghiên
CHÍ cao nương bóng cửa thiền
DỊ ma tà quỷ về miền tịnh an.

 

 

HẬU KIẾT

Giang hồ tứ cố vô thân
Vỉa hè ngơi tối, xiếc rong nương ngày
Lặng nhìn lừa lọc, xót cay
Tiền hung hậu kiết sum vầy người thân.

 

TÌM NHÀN 

Thường ngày ở huyện xôn xao
Tuô ông chí chóe, mày tao rần rần
Thằng khôn phải giả bộ đần
Tìm về chốn vắng nương thân mà nhàn!

 

TÌM

Thời gian vụt mất, đi tìm
Ve sầu, phượng vĩ im lìm trường xưa
Bóng mờ lây lất nắng mưa
Nương thân tìm chốn chuông chùa vọng âm.

 

 

CHỐN NƯƠNG THÂN 

Lênh đênh thân phận hoa bèo
Đạn bom chia cắt, khổ nghèo chia ly
Bèo trôi hoa dạt lất lây
Chốn nương thân đến báo ngày bình yên!  
 

 

TỰ LẬP

Nấp nương dựa bóng sống nhờ
Thẹn thùng rễ bám, dật dờ dây leo
Gió đùa ngọn cỏ cười reo
Mong manh tự lập dẫu nghèo vẫn sang!

 

NƯƠNG CHÙA

Trăng lên trêu ngọn dừa già
Gió lùa qua lá sương sa bạc đầu
Bồi hồi vầng trán hằn sâu
N
ương chùa ký ức hoa màu, đất hoang.

 

 

Mãn Đường Hồng

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
04/08/2010(Xem: 16041)
Quê Cha ngàn dặm mù khơi Đất Mẹ vạn lý một đời chia xa Thương non, ôm ấp mái nhà Nhớ núi, sầu mộng sơn hà chờ ai Thương sông, con nước chảy dài Nhớ biển, sóng vỗ miệt mài trùng dương Ra đi, vạn lý mù sương Rong rêu in bóng dặm đường phân ly Nhớ xưa, mấy thuở kinh kỳ Mà nay cũng lắm tư nghì hồn đau “Chiều chiều ra đứng ngõ sau Trông về quê Mẹ ruột đau chín chiều”
04/08/2010(Xem: 14634)
Rằng xưa, có Mục Kiền Liên Tu hành giác ngộ, chứng liền lục thông “Thiên nhãn”, “Thiên nhĩ” vô cùng “Tha tâm”, “Thần túc” thỉ chung rõ ràng “Túc mệnh”, “Lậu tận” vô can Đường xuôi lối ngược dọc ngang đi về Mục Liên bèn nhớ Mẫu hề
04/08/2010(Xem: 14928)
Bảy tình (thơ)
16/07/2010(Xem: 26557)
Vừa qua, được đọc mấy bài thơ chữ Hán của thầy Tuệ Sĩ đăng trên tờ Khánh Anh ở Paris (10.1996) với lời giới thiệu của Huỳnh kim Quang, lòng tôi rất xúc động. Nghĩ đến thầy, nghĩ đến một tài năng của đất nước, một niềm tự hào của trí tuệ Việt Nam, một nhà Phật học uyên bác đang bị đầy đọa một cách phi pháp trong cảnh lao tù kể từ ngày 25.3.1984, lòng tôi trào dậy nỗi bất bình đối với những kẻ đang tay vứt "viên ngọc quý" của nước nhà (xin phép mượn từ này trong lời nhận xét của học giả Đào duy Anh, sau khi ông đã tiếp xúc với thầy tại Nha trang hồi năm 1976: "Thầy là viên ngọc quý của Phật giáo và của Việt Nam ") để chà đạp xuống bùn đen... Đọc đi đọc lại, tôi càng cảm thấy rõ thi tài của một nhà thơ hiếm thấy thời nay và đặc biệt là cảm nhận sâu sắc tâm đại từ, đại bi cao thượng, rộng lớn của một tăng sĩ với phong độ an nhiên tự tại, ung dung bất chấp cảnh lao tù khắc nghiệt... Đạo vị và thiền vị cô đọng trong thơ của thầy kết tinh lại thành những hòn ngọc báu của thơ ca.
28/06/2010(Xem: 53983)
Ba môn vô lậu học Giới Định Tuệ là con đường duy nhất đưa đến Niết bàn an lạc. Muốn đến Niết-bàn an lạc mà không theo con đường này thì chỉ loanh quanh trong vòng luân hồi ba cõi. Nhân Giới sinh Định, nhân Định phát Tuệ– ba môn học liên kết chặt chẽ vào nhau, nhờ vậy mới đủ sức diệt trừ tham ái, đẩy lùi vô minh, mở ra chân trời Giác ngộ. Nhưng Giới học mênh mông, Định học mêng mông, Tuệ học mênh mông; nếu không nắm được “Cương yếu” thì khó bề hiểu biết chu đáo, đúng đắn. Không hiểu biết đúng đắn thì không sinh tâm tịnh tín; không có tâm tịnh tín thì sẽ không có tịnh hạnh, như vậy, con đường giải thoát bị bế tắc. Như một người học hoài mà vẫn không hiểu, tu hoàí mà vẫn không cảm nhận được chút lợi ích an lạc nào.
19/05/2010(Xem: 18230)
Đừng tưởng cứ trọc là sư Cứ vâng là chịu, cứ ừ là ngoan Đừng tưởng có của đã sang Cứ im lặng tưởng là vàng nguyên cây Đừng tưởng cứ uống là say Cứ chân là bước cứ tay là sờ Đừng tưởng cứ đợi là chờ Cứ âm là nhạc cứ thơ là vần Đừng tưởng cứ mới là tân
16/05/2010(Xem: 13428)
Thầy từ phương xa đến đây, Chúng con hạnh ngộ xum vầy. Đêm nay chén trà thơm ngát, Nhấp cho tình Đạo dâng đầy. Mừng Thầy từ Úc tới thăm, Đêm nay trăng sáng ngày rằm. Thầy về từ tâm lan tỏa, Giữa mùa nắng đẹp tháng Năm
10/03/2010(Xem: 20161)
Qua sự nghiệp trước tác và dịch thuật của Hòa Thượng thì phần thơ chiếm một tỷ lệ quá ít đối với các phần dịch thuật và sáng tác khác nhất là về Luật và, còn ít hơnnữa đối với cả một đời Ngài đã bỏ ra phục vụ đạopháp và dân tộc, qua nhiều chức năng nhiệm vụ khác nhaunhất là giáo dục và văn hóa là chính của Ngài.
10/03/2010(Xem: 15531)
Ba La Mật, tiếng Phạn Là Pu-ra-mi-ta, Gồm có sáu pháp chính Của những người xuất gia. Ba La Mật có nghĩa Là vượt qua sông Mê. Một quá trình tu dưỡng Giúp phát tâm Bồ Đề. Đây là Bồ Tát đạo, Trước, giải thoát cho mình,
10/03/2010(Xem: 20271)
Tên Phật, theo tiếng Phạn, Là A-mi-tab-ha, Tức Vô Lượng Ánh Sáng, Tức Phật A Di Đà. Đức A Di Đà Phật Là vị Phật đầu tiên Trong vô số Đức Phật Được tôn làm người hiền. Ngài được thờ nhiều nhất Trong Ma-hay-a-na, Tức Đại Thừa, nhánh Phật Thịnh hành ở nước ta.