Tứ cú lục bát “NƯƠNG” (tho)

13/07/201915:54(Xem: 11768)
Tứ cú lục bát “NƯƠNG” (tho)

Tứ cú lục bát “NƯƠNG”

 man-duong-hong-001

THIỀN

Mệt nhoài lăn giữa vô minh
Lục dục nghịch cảnh, thất tình chướng duyên
Nương theo hít thở cùng Thiền
Đón đưa vọng tưởng tâm yên với đời.

 

 

NẤP NƯƠNG

Đất cha vườn tổ chưa về
Bóng cây lẻ bạn chiều quê mơ màng
Nấp nương dưới ánh đạo vàng
Ngày mai quẫy gánh lên đàng vượt qua...

 

CHỐN 

Lênh đênh thân phận hoa bèo
Đạn bom chia cắt, khổ nghèo chia ly
Bèo trôi hoa dạt lất lây
Chốn nương thân đến báo ngày bình yên!

 HÁT NHỚ

Gang tay đo nỗi nhớ dài
Đo tình nương náu hình hài xa xôi
Câu hò gửi gắm dòng trôi
Còn đây bài lý riêng tôi hát buồn.

 

 

LIÊU TRAI CHÍ DỊ

LIÊU xiêu vách đất mái rơm
TRAI phòng cắm cúi tóc bờm bút nghiên
CHÍ cao nương bóng cửa thiền
DỊ ma tà quỷ về miền tịnh an.

 

 

HẬU KIẾT

Giang hồ tứ cố vô thân
Vỉa hè ngơi tối, xiếc rong nương ngày
Lặng nhìn lừa lọc, xót cay
Tiền hung hậu kiết sum vầy người thân.

 

TÌM NHÀN 

Thường ngày ở huyện xôn xao
Tuô ông chí chóe, mày tao rần rần
Thằng khôn phải giả bộ đần
Tìm về chốn vắng nương thân mà nhàn!

 

TÌM

Thời gian vụt mất, đi tìm
Ve sầu, phượng vĩ im lìm trường xưa
Bóng mờ lây lất nắng mưa
Nương thân tìm chốn chuông chùa vọng âm.

 

 

CHỐN NƯƠNG THÂN 

Lênh đênh thân phận hoa bèo
Đạn bom chia cắt, khổ nghèo chia ly
Bèo trôi hoa dạt lất lây
Chốn nương thân đến báo ngày bình yên!  
 

 

TỰ LẬP

Nấp nương dựa bóng sống nhờ
Thẹn thùng rễ bám, dật dờ dây leo
Gió đùa ngọn cỏ cười reo
Mong manh tự lập dẫu nghèo vẫn sang!

 

NƯƠNG CHÙA

Trăng lên trêu ngọn dừa già
Gió lùa qua lá sương sa bạc đầu
Bồi hồi vầng trán hằn sâu
N
ương chùa ký ức hoa màu, đất hoang.

 

 

Mãn Đường Hồng

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
31/08/2010(Xem: 16824)
Em có về cồn phượng là tuyển tập truyện ngắn của nhà văn Hoàng Ngọc Hiển.(Tên thật Trần Ngọc Hiển) Sinh năm 1942 tại Phú Lý, Hà Nam. Di cư vào Sài Gòn năm 1954. Cựu học sinh Chu Văn An. Sinh viên Luật khoa (dở dang). Sinh viên ban Triết Tây, Đại học Văn Khoa (cũng dở dang). Tốt nghiệp khả năng Sư Phạm Trung Cấp, ban Văn Chương. Giáo sư văn chương các trường trung học Côn Sơn, Ngô Quyền, Minh Đức, Trí Đức Sài Gòn và Kỷ Thuật Biên Hòa.
30/08/2010(Xem: 17096)
Nửa đời người tôi hiểu được Vô thường - ấy lẽ thường nhiên Và ta chỉ là chiếc lá Trong rừng nhân loại vô biên..
28/08/2010(Xem: 15863)
Chén cơm trong chốn lao tù, Con xin cúng Phật con tu quá đường ! Thế gian huyết hận đau thương ! Nghẹn nào lệ nhỏ vô phương kêu gào !.
12/08/2010(Xem: 14965)
Nằm ngủ ôm vầng trăng Đồi Cù nghiêng nghiêng mộng Đà Lạt chảy trong thân Tôi như rừng thông im bóng. Em như sương trăng áo mộng Đêm thu xưa quyến hớp hồn tôi.
04/08/2010(Xem: 16104)
Để hướng về Mùa Hiếu Hạnh Thiêng Liêng Để tưởng nhớ công ơn Công Đức Sinh Thành Để cùng nhau nhắc nhở Con Hiền Cháu Thảo Để đền đáp trong muôn một công đức Cha Mẹ Và lễ tạ Thù Ân Bốn Ơn Trọng cưu mang. Chúng tôi xin viết, cảm ơn quý vị đón nhận và phổ biến. Trân trọng, TNT Mặc Giang [email protected]
04/08/2010(Xem: 14765)
Quê tôi còn đó dòng sông Nước đi nước đến chờ con nước về Quê tôi còn đó sơn khê Sắt son tô thắm ước thề không phai Ơn sâu nghĩa nặng tình dài Đường quê lối nhỏ hoa cài thơm hương Tin yêu hòa ái mến thương Chia mưa sẻ nắng gió sương không màng Quê tôi còn đó đò ngang Chờ người lữ thứ miên man chưa về
04/08/2010(Xem: 16523)
Quê Cha ngàn dặm mù khơi Đất Mẹ vạn lý một đời chia xa Thương non, ôm ấp mái nhà Nhớ núi, sầu mộng sơn hà chờ ai Thương sông, con nước chảy dài Nhớ biển, sóng vỗ miệt mài trùng dương Ra đi, vạn lý mù sương Rong rêu in bóng dặm đường phân ly Nhớ xưa, mấy thuở kinh kỳ Mà nay cũng lắm tư nghì hồn đau “Chiều chiều ra đứng ngõ sau Trông về quê Mẹ ruột đau chín chiều”
04/08/2010(Xem: 15085)
Rằng xưa, có Mục Kiền Liên Tu hành giác ngộ, chứng liền lục thông “Thiên nhãn”, “Thiên nhĩ” vô cùng “Tha tâm”, “Thần túc” thỉ chung rõ ràng “Túc mệnh”, “Lậu tận” vô can Đường xuôi lối ngược dọc ngang đi về Mục Liên bèn nhớ Mẫu hề
04/08/2010(Xem: 14982)
Bảy tình (thơ)
16/07/2010(Xem: 27040)
Vừa qua, được đọc mấy bài thơ chữ Hán của thầy Tuệ Sĩ đăng trên tờ Khánh Anh ở Paris (10.1996) với lời giới thiệu của Huỳnh kim Quang, lòng tôi rất xúc động. Nghĩ đến thầy, nghĩ đến một tài năng của đất nước, một niềm tự hào của trí tuệ Việt Nam, một nhà Phật học uyên bác đang bị đầy đọa một cách phi pháp trong cảnh lao tù kể từ ngày 25.3.1984, lòng tôi trào dậy nỗi bất bình đối với những kẻ đang tay vứt "viên ngọc quý" của nước nhà (xin phép mượn từ này trong lời nhận xét của học giả Đào duy Anh, sau khi ông đã tiếp xúc với thầy tại Nha trang hồi năm 1976: "Thầy là viên ngọc quý của Phật giáo và của Việt Nam ") để chà đạp xuống bùn đen... Đọc đi đọc lại, tôi càng cảm thấy rõ thi tài của một nhà thơ hiếm thấy thời nay và đặc biệt là cảm nhận sâu sắc tâm đại từ, đại bi cao thượng, rộng lớn của một tăng sĩ với phong độ an nhiên tự tại, ung dung bất chấp cảnh lao tù khắc nghiệt... Đạo vị và thiền vị cô đọng trong thơ của thầy kết tinh lại thành những hòn ngọc báu của thơ ca.