Tứ Cú Lục Bát "Quay Về"

29/06/201920:33(Xem: 12134)
Tứ Cú Lục Bát "Quay Về"
que huong vn

TỨ CÚ LỤC BÁT “QUAY VỀ”

 

QUAY V

Đường về quê mẹ xa xăm
Một ngày thương nhớ, mười năm mong chờ
Tim nhoi nhói bóng nhạt mờ
Bước chân bỏ nẻo giang hồ trở quay.

 

THẢNH THƠI

Về đây, tôi đã quay về
Ngàn sau ngàn trước lặng nghe tâm cười
Buông rời tìm phút thảnh thơi
Mặc đời gió lộng, mặc người trá gian.

 

SÁM HỐI

Vươn vai gánh lấy nghiệp dầy
Chân tung bụi oán, tay bày mâm cơm
Bụng làm dạ chịu bao cơn
Dập đầu sám hối, khum lưng quay về.

 

TUNG BAY

Vẫy tay luồn khỏi bóng đêm
Chân trời tươi sáng bóng chim vẫy vùng
Tuổi thơ tôi đã sống cùng
Quay về chập chững thẹn thùng lên mây...

 

ĐẤT PHƯƠNG NAM

Từng năm đất thấm máu xương
Cha ông mở cõi khai đường mưu sinh
Sài Gòn Hòn Ngọc lung linh
Quay về sông nước chòng chành thuyền trôi...

 

THOÁT

Nhẹ tênh từng bước quay về
Không gian tịch mịch, im nghe xa gần
Phập phồng tâm thức không không
Đỉnh cao muôn trượng bụi hồng rơi bay.

 

TUỔI THƠ

Tuổi thơ tít tắp xuân hè
Bon chen một vé quay về rong chơi
Đông tàn biển mát hụp bơi
Thu qua lớp mới cùng ngồi bên nhau.

 

SEN

Sen lòng hé giữa bể dâu
Rạp mình sám hối, cúi đầu ăn năn
Bước chân dè dặt dùng dằng
Quay về lối nẻo thiện lành ngát hương.

 

CHỈ TAY

Quay về hỏi đường chỉ tay
Nghiệp duyên còn, hết, mỏng, dầy, kiết, hung
Chỉ tay lại rối chập chùng
Chấp tay sen búp, thôi ngừng hỏi han!

 

NGỰA

Tung bờm hí lộng đường xa
Vó câu gõ độp vườn nhà rêu phong
Thời gian in bóng ngựa lồng
Vụt đi hun hút chờ mong quay về. 

 

CHỨNG

Từ vô minh bỗng sáng lòa
Bất nhị giải thoát vỡ òa hai vai
Tận cùng hải giác thiên nhai
Nghe chuông vọng tiếng khoan thai quay về.

 

Tâm Không Vĩnh Hữu

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16/10/2016(Xem: 12874)
Bi là giúp chúng sanh lìa đau khổ- Được ấm no bớt những cảnh cơ hàn- Hết khó khăn không còn phải gian nan- Sống vững chãi giữa cuộc đời xao động
15/10/2016(Xem: 14356)
Từ có nghĩa giúp chúng sanh an lạc - Không phân chia kẻ lạ hay người thân- Không so đo không tính toán xa gần- Tôn trọng hết mọi loài cùng vạn vật
12/10/2016(Xem: 12099)
Rồi một ngày sẽ đến Thân xác này rã tan Đất trở về với đất Còn chi nữa mà tham.
07/10/2016(Xem: 15138)
Chùm Tứ Cú Lục Bát có Nụ Cười hưởng ứng. Chào ngày mới Chào nhau ngày mới nắng vàng Từng tia hi vọng ấm tràn ước mơ Chào nhau ngày mới bài thơ Tiễn ngày qua đã trống trơ tiếng cười.
07/10/2016(Xem: 18233)
Vào Thu đọc thơ Nguyễn Du: Hai bài thơ mang tên Thăng Long của Nguyễn Du Một phần nghiên cứu dịch văn bản thơ chữ Hán Nguyễn Du qua bài Thăng Long 昇龍 [1] Tản mạn nhận diện Quốc hiệu Việt Nam trong ý thơ của bài thơ Thăng Long Khái niệm lịch sử của Thăng Long Thăng Long, là kinh thành - kinh đô của đất nước Đại Việt, từ vương triều Lý , (gọi là nhà Lý hoặc Lý triều, 1009-1225) cho đến triều đại nhà Lê Trung Hưng (1533-1789), tổng cộng 564 năm[2]. Thăng Long cũng được hiểu và được biết đến trong lịch sử vốn là địa danh tên cũ của Hà Nội hiện nay. Thăng Long nghĩa là “rồng bay lên” theo nghĩa Hán-Việt, hay 昇隆[4] nghĩa là “thịnh vượng”. Từ Thăng Long: “昇隆” là từ đồng âm với tên “昇龍: Thăng Long”, nhưng mang nghĩa khác với “昇龍”.
07/10/2016(Xem: 13859)
Hoàng cung cảnh đẹp vô cùng- Hoa thơm, cỏ lạ một vùng tươi xinh- Có hòn non bộ hữu tình- Có hồ bán nguyệt in hình trời mây
07/10/2016(Xem: 11360)
Anh chàng Đại Lãng thuở xưa- Có tài đô vật rất ư tuyệt vời- Lại thêm sức mạnh hơn người,- Khi trong nội bộ ngay nơi viện nhà
07/10/2016(Xem: 12995)
Mười tám năm - Hoa Vô Ưu - Vườn xưa lấp lánh cánh hoa tâm - Mười tám năm Kẻ còn người mất - Hương Vô Ưu - Thơm ngát cõi vô thường
06/10/2016(Xem: 13869)
Cái chết từ từ sẽ đến Lo chi cho lắm cực thân Thảnh thơi nhẫn tu mà sống Có gì ta phải rối răm .
03/10/2016(Xem: 14310)
Ta đứng giữa rừng thu hắt hiu Sợi thu vàng vọt rớt trong chiều Hoàng hôn phủ gót chân hoang dã Nghe nàng thu chết giữa cô liêu