Chén Trà Tào Khê (thơ)

21/06/201819:33(Xem: 11998)
Chén Trà Tào Khê (thơ)
Chen Tra Tao Khe2

CHÉN TRÀ TÀO KHÊ

Phổ thơ từ bài viết
“ Chén Trà Tào Khê”
của TT Thích Nguyên Tạng

 

CHÉN ngọc thạch chứa đầy nước mát

TRÀ Đạt Ma thơm ngát tỉnh tâm

TÀO KHÊ suối ngọt ngàn năm

Trí Dược (Tam Tạng) khai tự - Huệ Năng (Ngũ Tổ) khơi nguồn.

....     ....    ....   ....    ...

 

2 - Nam Tông Phái, xiển dương đốn ngộ

Được khai sinh từ Tổ Huệ Năng

Tương tuyền câu chuyện kể rằng:

Trí Dược Tam Tạng cao tăng - đi thuyền

Sang Trung Hoa để truyền đạo pháp

Thuyền ngang qua suối mát Tào Khê

Nhìn xem phong cảnh sơn khê

Đất lành suối ngọt tràn trề bao la,

Ngược dòng nước lần ra đầu suối

Ngài dừng chân mở núi dựng chùa

Bảo Lâm (tự) tên gọi khi xưa

Nay vừa đổi lại thành chùa Nam Hoa...

Tổ thứ sáu Huệ Năng xuất hiện

Đến Tào Khê thay biến nơi đây

Hoa Nam Phật cảnh đẹp thay

Pháp tu đốn ngộ của Ngài Huệ Năng

Đem giải thoát triệu hằng Phật tử

Lập Nam Hoa cổ tự tâm linh

Tào Khê huyền ảo lung linh

Chia thành năm nhánh lan truyền khắp nơi...

3 - Huệ Năng Tổ Thứ Sáu Thiền Tông Trung Hoa.

Sử ghi lại đến đời lục tổ

Khai pháp tu đốn ngộ từ đây.

Huệ Năng tuổi nhỏ tâm khai

Chưa tu đắc đạo, mấy ai như ngài

Cha mất sớm những ngày còn nhỏ

Tuổi ấu thơ từ đó thay cha

Ngày ngày chăm sóc mẹ già

Bán củi nuôi sống cả nhà quanh năm

Nhân duyên trước, nay thầm gặp lại

Khi tuổi ngài vừa trải hai hai

Ngộ duyên đã đến một ngày

Giao củi cho khách bên tai, bổng trầm

Tiếng kinh tụng thanh âm kệ pháp

Từ bên trong ấm áp vọng ra

Dừng chân chăm chú nghe qua

Từng câu, từng chữ thật là diệu âm.

Bừng tỉnh mộng khai tâm trong dạ

Câu pháp kinh khi đã nghe qua

"Ưng Vô Sở Trụ Nhi Sanh Kỳ Tâm"

Dời chân cất bước vào nhà

Đợi nghe kinh hết dần dà hỏi thăm

Xin (cư sĩ) cho biết kinh âm kỳ diệu

Từ nơi đâu? Pháp hiệu là gì?

Cư sĩ tỏ rõ kinh thi:

Kim Cang-Bát Nhã, vô vi nhiệm mầu

Muốn am hiểu đến cầu (ngũ tổ) Hoàng Nhẫn

Chùa Đông Thiền ngài dẫn giải cho

Đôi câu thăm hỏi chuyện trò

Cư sĩ hiểu được nguyên do của ngài

Mười lạng bạc hôm nay gởi tặng

Tìm người thay nuôi nấng mẹ già

Tiều phu từ tạ lui ra

Chùa Đông Thiền hướng, đường xa vượt đèo.

Sau hai tháng lần theo vách đá

Xứ Kỳ Châu nay đã đến nơi

Đông Thiền trước mặt sáng ngời

Vào gặp Hoàng Nhẫn tổ đời thứ năm

Thầy bước tới hỏi thăm chỗ ở

Đến nơi đây nguyên cớ rõ ràng

Bạch thầy : con từ Lãnh Nam

Đến đây tu học cầu làm Phật thôi

Người Lãnh Nam xa xôi man rợ

Cầu làm Phật muôn thuở chẳng thành

Tiều phu vội vã đáp nhanh

Bạch thầy con được rõ rành tỏ phân:

Người Lãnh Nam chia phân đây đó

Phật tánh thời đâu có mà phân

Thấy người trí tuệ sáng ngần

Nhận vào công quả, pháp dần truyền sau..

Thời gian đã qua mau tám tháng

Nay tìm người xứng đáng kế thừa

Ra lệnh đệ tử trong chùa

Viết kệ sở chứng nộp đưa đủ đầy

Hàng đệ tử có thầy Thần Tú

Trí thiện cao. Nhắn nhủ vào đề:

Thân người tựa cây Bồ Đề

Tâm đài gương sáng không hề ố hoen

Năng lau chùi cho thêm tươi sáng

Đừng để cho vướng máng bụi trần

"Thân là cội bồ đề

Tâm như đài gương sáng

Phải luôn nhớ lau chùi

Chớ để dính bụi trần"

Thầy Huệ Năng chuyên cần trong bếp

Nghe đọc bài phân biệt thấp cao

Xướng lên bài kệ thật mau

Nhờ người viết hộ, ghi vào sau đây:

Bồ đề vốn chẳng cây không trái

Gương sáng kia nào phải nơi đài

Sự vật không có xưa nay

Mà sao vướng bụi trần ai nơi nào?

"Bồ đề vốn chẳng cây

Gương sáng chẳng phải đài

Xưa nay không một vật

Nơi bào dính bụi trần".

Nghe bài kệ thấp cao đã rõ

Ngũ Tổ liền bày tỏ phân minh

Nửa đêm chỉ gọi một mình

Vào trong tịnh thất truyền kinh cho ngài

Kinh Kim Cang thuyết ngay trọn bộ

Truyền chân kinh Ngũ Tổ khai tâm

Trong kinh có đoạn chỉ rằng

Đệ tử ghi nhớ mà hằng tựa nương

Hãy nương vào chỗ nương không có

Và bắt đầu từ đó khởi tâm

"Ưng Vô Sở Trụ Nhi Sinh Kỳ Tâm"

Huệ Năng khai ngộ, lặng thầm:

Thốt ra bài kệ "tự tâm" dâng thầy:

Nào ngờ tự tánh vốn là thanh tịnh

Nào ngờ tự tánh vốn không sanh diệt

Nào ngờ tự tánh vốn tự đầy đủ

Nào ngờ tự tánh hay sanh muôn phương

Nghe xong Ngũ Tổ liền tay

Y bát mang đến truyền ngay tức thì

Về Phương Nam hướng đi lánh nạn

Hãy rời mau kẻo sáng cơ nguy

Hành trình rời tự ra đi

Thân phận cư sĩ thời kỳ ẩn nương

Đoàn thợ săn dây vương bủa lưới

Bắt ngài ngồi chờ đợi thú rơi

Nhìn xem ngó khắp muôn nơi

Biết không ai thấy ngài thời thả đi

Có đôi lúc tùy nghi thuyết pháp

Khuyên thú rừng đừng sáp đến đây

Rau tươi độ thực mỗi ngày

Gởi trong nồi thịt thọ trai dần dà

Mười lăm năm trôi qua duyên đến

Ngài về Chùa Pháp Tánh Quảng Châu

Thấy hai vị tăng cãi nhau

Bất phân thắng bại bên nào muốn hơn

Phướn trước chùa gió vờn phướn động

Hay là vì gió lộng phướn vờn

Đôi bên lời lẻ thiệt hơn

Huệ Năng bước tới giải phân rõ ràng

Phướn không động gió cũng không động

Mà xem ra tâm động các ngài

Huệ Năng khai mở giải bày

Trụ trì Ấn Tông đến ngay hỏi ngài:

Nghe Y Pháp Huỳnh Mai nay đã

Được truyền sang hành giả đứng bên

Huệ Năng khi đó nhận liền

Ngũ Tổ Hoàng Nhẫn pháp truyền thừa sang

Sư Ấn Tông vội vàng đảnh lễ

Và chọn ngày phát thế, nhận thầy

Huệ Năng giáo hóa nơi đây

Sau rời (chùa) Pháp Tánh từ đây trở về...

Bảo Lâm tự Tào Khê suối chảy

Lập Nam Tông Thiền Phái xiển dương

Pháp tu đốn ngộ khơi nguồn

Tào Khê Nam Tự suối tuôn năm dòng.

 

Nam Mô A Di Đà Phật

Bến Tre 19/06/2018

Quảng Pháp Ngôn NVT

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
18/09/2010(Xem: 17429)
Bao giờ nhỉ tôi về thăm xứ Quảng Mười năm dài mộ mẹ chẳng ai trông Cỏ có cao hơn nỗi nhớ trong lòng Đất có lạnh hơn mùa đông Bắc Mỹ
18/09/2010(Xem: 23675)
Thiền sư Quảng Nghiêm (1121 - 1191) người huyện Ðan Phượng, tỉnh Hà Tây. Ông tu ở chùa Thánh Ân thuộc huyện Siêu Loại (nay là Thuận Thành, Bắc Ninh).
16/09/2010(Xem: 12512)
Chị ơi nếu chị đã yêu Ðã từng lỡ hái ít nhiều đau thương Ðã xa hẳn quãng đời hương Ðã đem lòng gởi gió sương mịt mù
16/09/2010(Xem: 16226)
Nhìn ra trăng nước vơi đầy, Nhìn đời một giấc mộng dài ngắn thôi! Đáy lòng vằng vặc gương soi, Thăng hoa nhân quả đón người thăng hoa!
13/09/2010(Xem: 19960)
Chuyển ngữ: Sư Ông Làng Mai Xướng kệ: Thầy Pháp Niệm Lắng lòng nghe, lắng lòng nghe Tiếng chuông huyền diệu đưa về nhất tâm.
10/09/2010(Xem: 79605)
Một cuộc đời một vầng nhật nguyệt (quyển 3) Vào thời không có đức Phật Chánh Đẳng Giác ra đời, tại vùng Allakappa bị dịch bệnh hoành hành, lây lan từ người này sang người khác, nhà này sang nhà khác làm cho rất nhiều người chết, đói kém xảy ra khắp nơi. Những người còn mạnh khỏe, chưa bị lây nhiễm
08/09/2010(Xem: 13164)
Mười con nhạn trắng về tha Như Lai thường trụ trên tà áo xuân Vai nghiêng nghiêng suối tơ huyền Đôi gò đào nở trên miền tuyết thơm
08/09/2010(Xem: 13417)
Nắng Sài gòn anh đi mà chợt mát bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng
06/09/2010(Xem: 22534)
Văn Tế Thiên Thái Trí Giả Tác giả Đại Sư Tuân Thức Việt dịch: Từ Hoa Nhất Tuệ Tâm *** 1. Nhất tâm đảnh lễ Thiên Thai Trí Giả trong núi Đại Tô tu Tam Muội Pháp Hoa Tâm tâm tịnh thường lại qua pháp giới Như mặt nhật trên không chẳng trụ không Ba ngàn thật tướng tức khắc viên thông Tám vạn trần lao đều đồng chân tịnh. Xưa hội kiến Linh Sơn còn hoài niệm Nay toàn thân bảo tháp thấy rõ ràng Nếu chẳng cùng sư Nam Nhạc tương phùng Ai biết được tướng thâm sâu thiền định?
06/09/2010(Xem: 17994)
Trước khi viết loạt bài thơ trong phần 1 (Hương Đạo Pháp) của thi tập này, tôi đã có gần 900 bài thơ, xoay quanh các đề tài như quê hương đất nước, lịch sử, địa lý, giáo dục, cuộc sống hiện thực, triết lý sắc không, nhân sinh quan - vũ trụ quan Phật giáo, xưng tán Phật và Bồ-tát….. Tôi đang tạm thời dừng lại công việc sáng tác và chuẩn bị làm một số công việc chuyên và không chuyên khác. Nhưng chợt nhớ lại nhiều năm trước đây, thỉnh thoảng có trao đổi với vài vị thân, quen, những người đã đọc gần hết thơ tôi. Họ nói, trong số gần 900 bài thơ đã đọc qua, tuy cũng có nhiều bài khuyến tu, nhiều bài mang tính giáo lý sâu sắc, có khả năng tịnh hóa lòng người, tuy nhiên những bài đó nằm tản mạn chưa tập trung. Hơn nữa cũng cần một loạt bài có nội dung giáo lý căn bản với thuật ngữ, danh từ, pháp số thông dụng, nếu có thể cho thành một tập riêng biệt thì càng tốt.