Chén Trà Tào Khê (thơ)

21/06/201819:33(Xem: 11284)
Chén Trà Tào Khê (thơ)
Chen Tra Tao Khe2

CHÉN TRÀ TÀO KHÊ

Phổ thơ từ bài viết
“ Chén Trà Tào Khê”
của TT Thích Nguyên Tạng

 

CHÉN ngọc thạch chứa đầy nước mát

TRÀ Đạt Ma thơm ngát tỉnh tâm

TÀO KHÊ suối ngọt ngàn năm

Trí Dược (Tam Tạng) khai tự - Huệ Năng (Ngũ Tổ) khơi nguồn.

....     ....    ....   ....    ...

 

2 - Nam Tông Phái, xiển dương đốn ngộ

Được khai sinh từ Tổ Huệ Năng

Tương tuyền câu chuyện kể rằng:

Trí Dược Tam Tạng cao tăng - đi thuyền

Sang Trung Hoa để truyền đạo pháp

Thuyền ngang qua suối mát Tào Khê

Nhìn xem phong cảnh sơn khê

Đất lành suối ngọt tràn trề bao la,

Ngược dòng nước lần ra đầu suối

Ngài dừng chân mở núi dựng chùa

Bảo Lâm (tự) tên gọi khi xưa

Nay vừa đổi lại thành chùa Nam Hoa...

Tổ thứ sáu Huệ Năng xuất hiện

Đến Tào Khê thay biến nơi đây

Hoa Nam Phật cảnh đẹp thay

Pháp tu đốn ngộ của Ngài Huệ Năng

Đem giải thoát triệu hằng Phật tử

Lập Nam Hoa cổ tự tâm linh

Tào Khê huyền ảo lung linh

Chia thành năm nhánh lan truyền khắp nơi...

3 - Huệ Năng Tổ Thứ Sáu Thiền Tông Trung Hoa.

Sử ghi lại đến đời lục tổ

Khai pháp tu đốn ngộ từ đây.

Huệ Năng tuổi nhỏ tâm khai

Chưa tu đắc đạo, mấy ai như ngài

Cha mất sớm những ngày còn nhỏ

Tuổi ấu thơ từ đó thay cha

Ngày ngày chăm sóc mẹ già

Bán củi nuôi sống cả nhà quanh năm

Nhân duyên trước, nay thầm gặp lại

Khi tuổi ngài vừa trải hai hai

Ngộ duyên đã đến một ngày

Giao củi cho khách bên tai, bổng trầm

Tiếng kinh tụng thanh âm kệ pháp

Từ bên trong ấm áp vọng ra

Dừng chân chăm chú nghe qua

Từng câu, từng chữ thật là diệu âm.

Bừng tỉnh mộng khai tâm trong dạ

Câu pháp kinh khi đã nghe qua

"Ưng Vô Sở Trụ Nhi Sanh Kỳ Tâm"

Dời chân cất bước vào nhà

Đợi nghe kinh hết dần dà hỏi thăm

Xin (cư sĩ) cho biết kinh âm kỳ diệu

Từ nơi đâu? Pháp hiệu là gì?

Cư sĩ tỏ rõ kinh thi:

Kim Cang-Bát Nhã, vô vi nhiệm mầu

Muốn am hiểu đến cầu (ngũ tổ) Hoàng Nhẫn

Chùa Đông Thiền ngài dẫn giải cho

Đôi câu thăm hỏi chuyện trò

Cư sĩ hiểu được nguyên do của ngài

Mười lạng bạc hôm nay gởi tặng

Tìm người thay nuôi nấng mẹ già

Tiều phu từ tạ lui ra

Chùa Đông Thiền hướng, đường xa vượt đèo.

Sau hai tháng lần theo vách đá

Xứ Kỳ Châu nay đã đến nơi

Đông Thiền trước mặt sáng ngời

Vào gặp Hoàng Nhẫn tổ đời thứ năm

Thầy bước tới hỏi thăm chỗ ở

Đến nơi đây nguyên cớ rõ ràng

Bạch thầy : con từ Lãnh Nam

Đến đây tu học cầu làm Phật thôi

Người Lãnh Nam xa xôi man rợ

Cầu làm Phật muôn thuở chẳng thành

Tiều phu vội vã đáp nhanh

Bạch thầy con được rõ rành tỏ phân:

Người Lãnh Nam chia phân đây đó

Phật tánh thời đâu có mà phân

Thấy người trí tuệ sáng ngần

Nhận vào công quả, pháp dần truyền sau..

Thời gian đã qua mau tám tháng

Nay tìm người xứng đáng kế thừa

Ra lệnh đệ tử trong chùa

Viết kệ sở chứng nộp đưa đủ đầy

Hàng đệ tử có thầy Thần Tú

Trí thiện cao. Nhắn nhủ vào đề:

Thân người tựa cây Bồ Đề

Tâm đài gương sáng không hề ố hoen

Năng lau chùi cho thêm tươi sáng

Đừng để cho vướng máng bụi trần

"Thân là cội bồ đề

Tâm như đài gương sáng

Phải luôn nhớ lau chùi

Chớ để dính bụi trần"

Thầy Huệ Năng chuyên cần trong bếp

Nghe đọc bài phân biệt thấp cao

Xướng lên bài kệ thật mau

Nhờ người viết hộ, ghi vào sau đây:

Bồ đề vốn chẳng cây không trái

Gương sáng kia nào phải nơi đài

Sự vật không có xưa nay

Mà sao vướng bụi trần ai nơi nào?

"Bồ đề vốn chẳng cây

Gương sáng chẳng phải đài

Xưa nay không một vật

Nơi bào dính bụi trần".

Nghe bài kệ thấp cao đã rõ

Ngũ Tổ liền bày tỏ phân minh

Nửa đêm chỉ gọi một mình

Vào trong tịnh thất truyền kinh cho ngài

Kinh Kim Cang thuyết ngay trọn bộ

Truyền chân kinh Ngũ Tổ khai tâm

Trong kinh có đoạn chỉ rằng

Đệ tử ghi nhớ mà hằng tựa nương

Hãy nương vào chỗ nương không có

Và bắt đầu từ đó khởi tâm

"Ưng Vô Sở Trụ Nhi Sinh Kỳ Tâm"

Huệ Năng khai ngộ, lặng thầm:

Thốt ra bài kệ "tự tâm" dâng thầy:

Nào ngờ tự tánh vốn là thanh tịnh

Nào ngờ tự tánh vốn không sanh diệt

Nào ngờ tự tánh vốn tự đầy đủ

Nào ngờ tự tánh hay sanh muôn phương

Nghe xong Ngũ Tổ liền tay

Y bát mang đến truyền ngay tức thì

Về Phương Nam hướng đi lánh nạn

Hãy rời mau kẻo sáng cơ nguy

Hành trình rời tự ra đi

Thân phận cư sĩ thời kỳ ẩn nương

Đoàn thợ săn dây vương bủa lưới

Bắt ngài ngồi chờ đợi thú rơi

Nhìn xem ngó khắp muôn nơi

Biết không ai thấy ngài thời thả đi

Có đôi lúc tùy nghi thuyết pháp

Khuyên thú rừng đừng sáp đến đây

Rau tươi độ thực mỗi ngày

Gởi trong nồi thịt thọ trai dần dà

Mười lăm năm trôi qua duyên đến

Ngài về Chùa Pháp Tánh Quảng Châu

Thấy hai vị tăng cãi nhau

Bất phân thắng bại bên nào muốn hơn

Phướn trước chùa gió vờn phướn động

Hay là vì gió lộng phướn vờn

Đôi bên lời lẻ thiệt hơn

Huệ Năng bước tới giải phân rõ ràng

Phướn không động gió cũng không động

Mà xem ra tâm động các ngài

Huệ Năng khai mở giải bày

Trụ trì Ấn Tông đến ngay hỏi ngài:

Nghe Y Pháp Huỳnh Mai nay đã

Được truyền sang hành giả đứng bên

Huệ Năng khi đó nhận liền

Ngũ Tổ Hoàng Nhẫn pháp truyền thừa sang

Sư Ấn Tông vội vàng đảnh lễ

Và chọn ngày phát thế, nhận thầy

Huệ Năng giáo hóa nơi đây

Sau rời (chùa) Pháp Tánh từ đây trở về...

Bảo Lâm tự Tào Khê suối chảy

Lập Nam Tông Thiền Phái xiển dương

Pháp tu đốn ngộ khơi nguồn

Tào Khê Nam Tự suối tuôn năm dòng.

 

Nam Mô A Di Đà Phật

Bến Tre 19/06/2018

Quảng Pháp Ngôn NVT

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
04/02/2026(Xem: 1389)
Hôm nay Tháng Chạp hăm ba Táo quân khắp chốn gần xa về chầu Bớ khanh Bắc Đẩu Nam Tào Mau mau mở máy bắt đầu online Táo Quân dưới đó là ai Trẫm đây miễn lễ, trình ngay phương nào ? Trong năm Ất Tỵ ra sao Mà ta bị réo điên đầu điếc tai.
02/02/2026(Xem: 2718)
Có đôi khi trong cuộc sống …nếu bị nhiều mệt mỏi quá lại là không cần thiết nhất là vì những việc mà chẳng hề quan trọng, cũng không đến từ việc phải sống thế nào để an yên mà đến từ việc phải trở thành một ai đó trong đầu mình .
30/01/2026(Xem: 2651)
Nhà hiền triết Krishnamurti đã nhắc nhở gì cho nhân loại hôm nay? Thích Phước An Tôi còn nhớ hồi giữa thập niên 60 của thế kỷ trước, nhà xuất bản An Tiêm đã cho ra đời tác phẩm Tự do đầu tiên và cuối cùng (The First and Last Freedom) của Krishnamurti do Phạm Công Thiện dịch. Mở đầu tác phẩm, dịch giả còn dịch bài viết của Henry Miller, văn hào hàng đầu nước Mỹ thời bấy giờ, trong đó có đoạn Henry Miller tóm tắt tư tưởng của Krishnamurti như thế này: “Con người là kẻ tự giải phóng chính mình”, phải chăng đó là đạo lý tối thượng của đời sống? Biết bao bậc hiền nhân trác việt đã nhắc nhở và đã thể hiện bao lần giữa lòng đời? Họ là những đạo sư, những con người đã làm lễ cưới của đời sống, chứ không phải những nguyên tắc, tín điều, luân lý, tín ngưỡng. Những bậc đạo sư đúng nghĩa thì chẳng bao giờ bày đặt ra lề luật hay giới luật, họ chỉ muốn giải phóng con người. Điều làm nổi bật Krishnamurti và nói lên sự khác nhau giữa Krishnamurti và những bậc giáo chủ vĩ đại tro
30/01/2026(Xem: 2266)
MEISTER ECKHART, sinh tại nước Đức, là nhà thần bí vĩ đại của Thiên Chúa Giáo thời Trung Cổ. Sự xuất hiện của Eckhart đả làm đảo lộn những người đi trước ông. D.T Suzuki trong Mysticism, Christian and Buddhist[*] đã nói rằng, lần đầu tiên khi đọc Eckhart, ông đã xúc động tràn trề, và D. T. Suzuki cho rằng, Eckhart đúng là “một tín đồ Thiên Chúa Giáo phi thường” và Thiên Chúa Giáo của Eckhart, D.T. Suzuki nghĩ là “thật độc đáo và có nhiều điểm khiến chúng ta do dự không muốn xếp ông thuộc vào loại mà ta thường phối hợp với chủ nghĩa hiện đại duy lý hóa hay chủ nghĩa truyền thống bảo thủ. Ông đứng trên những kinh nghiệm của riêng mình, một kinh nghiệm phát sinh từ một tư cách phong phú, thâm trầm, và đạo hạnh” Và như vậy D.T. Suzuki viết tiếp về Eckhart: “Ông cố hóa giải những kinh nghiệm ấy với cái loại Thiên Chúa Giáo lịch sử rập khuân theo những truyền kì và huyền thoại. Ông cố đem cho chúng một ý nghĩa ‘bí truyền’ hay ‘nội tại’ và như thế ông bước vào những địa vực mà đa số những tiề
30/01/2026(Xem: 1882)
Đây là bút ký của thầy Thích Phước An viết về ngài Tuệ Sỹ, mà thầy vừa mới gởi cho tôi chiều qua. Tôi đã từng, hơn một lần, đọc lại những bài viết hay, viết về ngài Tuệ Sỹ, lúc ngài viên tịch hôm 24.11.2023 vừa qua tại chùa Phật Ân, trong đó có bài này của thầy Thích Phước An – Thơ Tuệ Sỹ, Tiếng Gọi Của Những Đêm Dài Heo Hút. Văn hay thì đọc lại bao lần cũng hay. Đó là chưa kể, đây là một áng văn rất thơ của một nhà sư, viết về một nhà sư. Thầy Thích Phước An và ngài Tuệ Sỹ, vốn là huynh đệ, gắn bó cùng nhau đã từ lâu lắm trên bước đường tu hành. Thân thiết với ngài Tuệ Sỹ, có lẽ chẳng ai bằng thiền sư Lê Mạnh Thát, cùng các huynh đệ của ngài, trong đó, có một người luôn kề cận, từ lúc còn gian khó của gần năm mươi năm về trước, cho đến khi ngài mất, đó là thầy Thích Phước An.
24/01/2026(Xem: 2388)
Bính Ngọ Xuân về tỏa ngát hương Hoa ngàn cỏ nội đẹp muôn phương Yên bình vũ trụ qua tai chướng Tĩnh tại mây trời lắng họa vương Thế sự chan hòa xa ác tưởng Nhân dân vững mạnh hướng an tường Nghĩa ân mầu nhiệm lòng luôn dưỡng Phật pháp thâm huyền phát nguyện nương..!
23/01/2026(Xem: 1721)
Một lần tịch tĩnh rừng hoang Sao Mai huyền diệu óng vàng trời đêm Cỏ lau thức giấc êm đềm Khuya bên bếp lạnh khưi niềm ủ tro Tâm tư hạt thóc rợp cờ Viễn trình sinh tử phất phơ năm màu Nỗi hờn tủi nhục tan mau
22/01/2026(Xem: 1655)
Hai ngàn năm Thế Tôn khuất bóng Lời dạy xưa còn vọng đến nay Chỉ là nắm lá trong tay Vẫn tròn huệ mạng Như Lai ba đời Đúng diệu pháp, một lời cũng đủ Đủ bao hàm pháp nhũ Phật thân Một lời như thật, như chân Cho ra diệu dụng vạn lần hư ngôn Biển trầm luân sóng dồn gió dập
20/01/2026(Xem: 1656)
QUÁN Mắt trông năm cùng tháng tận Ngắm dòng sống hiểu thực hư Không gian không ngừng tĩnh động Sáu thời vẫn vậy phù hư. LẶNG Xập xình hòa vui tiếng nhạc Xóm quê thay sắc rộn ràng Hẻm cùng gió tung bụi rác Thi nhân ngưng nhịp gác đàn.
15/01/2026(Xem: 2172)
chén cơm tù cúng Phật xiềng xích hóa bụi tro hư không nhập lòng đất trăng trời trải ngàn hoa chén cơm chiều nguội ngắt tâm ý vẫn trắng trong khói nào cay đôi mắt khưi thơ chảy tuôn dòng