Dạy Khỉ Nói (thơ)

03/02/201818:43(Xem: 13089)
Dạy Khỉ Nói (thơ)

DẠY KHỈ NÓI

 monkey-clip-art-dc85gzbce

Nước kia có một ông vua

Vốn ham việc lạ, lại ưa chuyện đùa

Tuổi vua bẩy chục có thừa

Một hôm cao hứng nhân mùa đầu Xuân

Vua truyền lệnh khắp xa gần

Từ quan cho chí tới dân hay rằng

Nhà vua ban thưởng ngàn vàng

Cho ai dạy khỉ nói năng như người.

Các quan phải dự cuộc chơi

Cố công tìm khỉ các nơi đưa về

Quan nào dạy khỉ lành nghề

Thưởng vàng, tăng chức đôi bề vui thay!

Quan nào dạy khỉ không hay

Phạt tiền, giáng chức xuống ngay tức thời!

Các quan than khổ thấu trời

Xưa nay khỉ nói tiếng người được đâu!

*

Đột nhiên có lão bạc đầu

Tuổi ngoài bẩy chục xin hầu chuyện vua

Quỳ thưa: "Nghề nghiệp từ xưa

Chuyên môn dạy khỉ nói như tiếng người

Cả nhà từng trải mấy đời

Nghề riêng dạy khỉ vốn nơi gia truyền!".

Vua nghe hứng thú vô biên,

Lão ông lên tiếng nói thêm đôi điều:

"Công phu dạy khỉ khá nhiều

Muốn cho khỉ nói được theo tiếng người

Hàng ngày kiên nhẫn mớm lời

Ít ra phải mất hai mươi năm trường!"

Lão xin nhận trước nửa vàng

Về nhà sửa soạn lên đường đi xa

Khỉ thông minh sẽ tìm ra

Đem về dạy nói, nghề nhà tinh thông.

Vua nghe háo hức vô cùng

Xuất năm trăm lượng đưa ông tức thì,

Các quan mừng rỡ kể chi

Trút đi gánh nặng nghĩ suy nhọc lòng.

Ông về, vợ ngóng, con trông

Khi hay rõ chuyện đều cùng khóc la

Gạt vua chắc chết cả nhà

Phen này ba họ thành ma không đầu

Ông nào dạy khỉ được đâu

Cả gan lường gạt, mưu sâu hại đời.

Vuốt râu ông lão cả cười

"Tuổi ta nay đã bẩy mươi hơn rồi

Nhà vua tuổi cũng vậy thôi

Chắc chi còn sống ở đời dài lâu

Hai mươi năm khó qua cầu

Vua và ta chết còn đâu lo gì!

Con người sống ở thác về

Coi như xí xóa cớ chi muộn sầu

Vô thường Phật dạy từ lâu!".

 

Tâm Minh Ngô Tằng Giao

(Thi hóa, phỏng theo Truyện Cổ Phật Giáo)

_________________________________________________

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/10/2016(Xem: 17551)
Vào Thu đọc thơ Nguyễn Du: Hai bài thơ mang tên Thăng Long của Nguyễn Du Một phần nghiên cứu dịch văn bản thơ chữ Hán Nguyễn Du qua bài Thăng Long 昇龍 [1] Tản mạn nhận diện Quốc hiệu Việt Nam trong ý thơ của bài thơ Thăng Long Khái niệm lịch sử của Thăng Long Thăng Long, là kinh thành - kinh đô của đất nước Đại Việt, từ vương triều Lý , (gọi là nhà Lý hoặc Lý triều, 1009-1225) cho đến triều đại nhà Lê Trung Hưng (1533-1789), tổng cộng 564 năm[2]. Thăng Long cũng được hiểu và được biết đến trong lịch sử vốn là địa danh tên cũ của Hà Nội hiện nay. Thăng Long nghĩa là “rồng bay lên” theo nghĩa Hán-Việt, hay 昇隆[4] nghĩa là “thịnh vượng”. Từ Thăng Long: “昇隆” là từ đồng âm với tên “昇龍: Thăng Long”, nhưng mang nghĩa khác với “昇龍”.
07/10/2016(Xem: 13345)
Hoàng cung cảnh đẹp vô cùng- Hoa thơm, cỏ lạ một vùng tươi xinh- Có hòn non bộ hữu tình- Có hồ bán nguyệt in hình trời mây
07/10/2016(Xem: 10904)
Anh chàng Đại Lãng thuở xưa- Có tài đô vật rất ư tuyệt vời- Lại thêm sức mạnh hơn người,- Khi trong nội bộ ngay nơi viện nhà
07/10/2016(Xem: 12787)
Mười tám năm - Hoa Vô Ưu - Vườn xưa lấp lánh cánh hoa tâm - Mười tám năm Kẻ còn người mất - Hương Vô Ưu - Thơm ngát cõi vô thường
06/10/2016(Xem: 13265)
Cái chết từ từ sẽ đến Lo chi cho lắm cực thân Thảnh thơi nhẫn tu mà sống Có gì ta phải rối răm .
03/10/2016(Xem: 13810)
Ta đứng giữa rừng thu hắt hiu Sợi thu vàng vọt rớt trong chiều Hoàng hôn phủ gót chân hoang dã Nghe nàng thu chết giữa cô liêu
03/10/2016(Xem: 13935)
Đời người trong hơi thở Ra vào từng phút giây Thở ra mà không lại Là vĩnh biệt từ đây .
01/10/2016(Xem: 12497)
Ngồi thuyền Bát Nhã ngắm trăng Bát cơm Hương Tích trăm năm vẫn về Tào Khê trà uống bên lề Lăng Già sáng tỏ tứ bề không gian
29/09/2016(Xem: 14530)
Người về giữa chốn phù vân. Sông Hàn ngấn lệ khôn ngần tiếc thương. Người về chung cuộc vô thường. Không còn mưa nắng khói sương Bà Nà. Người về tiếng khóc vang xa. Là kinh động giữa ta bà khói mây.
29/09/2016(Xem: 13981)
Cuộc sống quanh ta khóc lẫn cười Khổ đau hạnh phúc bấy nhiêu người Cái vòng xoay chuyển không cùng tận Ngày nắng đêm mưa giữa cuộc đời.