Dòng Mộng (thơ)

28/10/201720:52(Xem: 10569)
Dòng Mộng (thơ)

 

canh dep

DÒNG MỘNG

(Trích)

 

1/ Con sông nào

 

Tháng ngày xuôi dòng chảy

Chở bao nỗi đời đau

Âm thầm trôi đi mãi,

Từ vạn cổ xưa sau.

 

2/ Con thuyền nào

 

Ngàn phương về bến đổ

Ngừng nhịp sóng thời gian

Vầng trăng tròn gương cổ

Mưa gió tạnh tràng giang.

 

3/ Lênh đênh

 

Lênh đênh thuyền một chiếc

Sông dài, bể rộng thênh

Giữa sắc màu sinh-diệt

Từng ý niệm lênh đênh.

 

 4/ Rẻ sóng

 

Con thuyền rẻ sóng nước

Dòng trôi xanh tự tình

Mái chèo khua nhịp nước

Bỏ sau mùa tử-sinh.

 

5/ Hướng phương

 

Đường mây xuôi dòng sông lạ

Hỏi chi nhánh cỏ, cành lau

Giọt lệ từ khi hoá đá,

Người về từ cõi chiêm bao.

 

 

6/ Bến xưa

 

Bến xưa, thuyền đổ bến

Chèo xưa, gát mái chèo

Bóng chim cùng bóng nước

Nơi nào không trăng theo !

 

7/ Bến đổ

 

Bình yên sau cơn sóng gió

Thuyền về với ánh trăng khuya

Mái chèo thôi chao nhịp nước,

Trong ngần nỗi nọ, niềm kia.

 

8/ Trong hồ

 

Con cá quẩy đuôi hớp nước

Nước tung trắng bọt theo dòng

Vẫn ta giữa đời đếm bước

Vẫn ta giữa đời đục trong.

 

9/ Vũng nước

 

Gió ru mây ngàn soi bóng

Râm râm giọt nắng giao mùa

Thanh âm rơi vào tĩnh lặng

Chim về tắm mát ban trưa.

 

10/ Nghiêng

 

Quán chiều nghiêng sóng bụi

Sông chiều nghiêng khói sương

Đò chiều nghiêng mây nổi

Ta chiều nghiêng vô thường.

 

  

11/ Như dòng trôi

 

Đi như dòng trôi mây nước

Bình yên như cỏ, như hoa

Bỏ sau những gì mộng ước

Thênh thang đời vẫn muôn nhà.

 

 

12/ Cái bóng

 

Bóng mây cùng bóng nước

Bóng ảo khói sương mù

Bóng vô thường thoáng trước

Bóng ta, người

Thực-hư.

 

 

13/ Vẫn còn

 

Ai theo lời mây nước

Từ buổi hồng sơ nguyên

Nước mây trôi chảy miết

Còn lại cõi bình yên.

 

 

14/ Cõi thực nào

 

Không là vầng trăng diệu pháp

Tìm chi vết nhạn qua sông

Ngàn năm tỉnh lòng hạt bụi

Cành sương chợt nắng mai hồng.

 


 MẶC PHƯƠNG TỬ.









 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
26/09/2014(Xem: 14903)
Đêm khuya khoắt bên thềm sương giọt đọng Nghe đâu đây chim nhịp cánh giang hồ Nhịp thời gian gỏ tràn theo mạch sống Của muôn màu ảo hóa điệu tung hô.
26/09/2014(Xem: 15359)
Đường lên đó vẳng lời chim lảnh lót Dọc ven sông hoa nắng trổ mây lồng Dòng Hương khuất sau cánh rừng cây lá Qua dốc đồi thoáng hiện bóng Huyền Không
25/09/2014(Xem: 12453)
Chiều buồn ngồi ngắm mây bay. Mây ơi, gió hỡi có hay được rằng, Cuộc đời là kiếp lằng nhằng. Quanh đi quẩn lại chỉ ngần ấy thôi.
24/09/2014(Xem: 15653)
Xanh cây lá rừng cao trầm hùng vĩ Chập chùng lên ghềnh đá tảng đồi hoang Ẩn hiện triền non ven sườn dốc Thanh Lương Am thấp thoáng giữa sương ngàn
24/09/2014(Xem: 41328)
Vào năm 2007, có thêm 13 kỷ lục Phật Giáo Việt Nam (PGVN) được Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam (Vietbooks) & Báo Giác Ngô công bố rộng rãi. Trong số đó, xin nhắc lại một kỷ lục: “Ngôi Chùa Có Bản Khóa Hư Lục Viết Trên Giấy Lớn Nhất Việt Nam- Bản kinh do cư sĩ Đặng Như Lan viết tại chùa Vĩnh Nghiêm, Q.3, TP.HCM năm 1966. Bản kinh viết dựa theo Khóa hư lục của Trần Thái Tông (1218-1277) có kích thước rộng 1,78m, dài là 2,7m, hiện đang được trưng bày tại chùa Phổ Quang, Thành phố Hồ Chí Minh”.
24/09/2014(Xem: 18570)
Ngọn núi nhỏ Phổ Đà, còn được gọi là Núi Ông Sư, thuộc địa phận làng Xuân Tự, xã Vạn Hưng, huyện Vạn Ninh- tỉnh Khánh Hòa, cách thành phố biển Nha Trang khoảng 50 cây số về hướng Bắc, có hình thù của một “ông Tượng” nằm giữa một vùng mây nước hữu tình, tứ bề sơn thủy làng mạc bao bọc tạo nên một bức tranh phong cảnh bàng bạc thơ mộng và thiêng liêng ấm cúng.
24/09/2014(Xem: 15665)
Thôi, chia tay tiễn một người Căn duyên đã dứt, xa rời trần gian Chia buồn gia quyến chít tang Chia xa người khuất, suối vàng đón linh Đã xong, sống trải hết tình Tàm quý học đạo, tịnh thanh tâm thường
23/09/2014(Xem: 15542)
Nỗi trôi từ độ vô minh Đớn đau từ thuở thác sinh làm người. Sóng dồi bão dập ... tả tơi Đời tan tác mộng , nghiệp phôi pha tình.
22/09/2014(Xem: 14005)
Đừng trách đừng buồn đừng thở than Đừng hờn đừng giận đừng ngỡ ngàng Nhẹ nhàng chấp nhận điều ngang trái Oán hận làm chi chuyện bẽ bàng
21/09/2014(Xem: 15743)
Cõi tạm ta bà, cõi nghiệt oan, Can chi sân hận đến hơi tàn. Một nhành dương liễu xua ba nghiệp, Bốn tiếng hồng danh (*) độ sáu đàng. Ma đạo lộng hành thời mạt pháp,