Nắm Tro Tàn (thơ)

25/10/201718:48(Xem: 12139)
Nắm Tro Tàn (thơ)

NẮM TRO TÀN

 Hu-cot

Thuở xưa Đức Phật chúng ta

Hồi còn tại thế, tiếp bà mẹ kia,

Bà ta nức nở não nề

Thương con vừa chết, thảm thê cõi lòng,

Ôm con bà mẹ khóc ròng

Quỳ xin Phật cứu, cầu mong phép mầu.

Bà tin tưởng Phật từ lâu

Đã đầy nhân ái, lại giàu thần thông

Cứu con bà thoát tử thần.

Phật nghe than khóc, cảm thông, nhận lời.

Phật truyền bà ghé mọi nơi

Tìm nhà nào suốt ba đời vừa qua

Không hề chịu cảnh tang ma

Không người thân thích gần xa lìa trần

Xin về một nắm tro tàn

Tro này mới thật vô vàn linh thiêng

Phật dùng tro làm phép riêng

Cứu con bà sống, chớ phiền muộn chi!

*

Mẹ ôm con vội ra đi

Lòng đầy hy vọng, sá gì đường xa

Thăm từng nơi, ghé từng nhà

Hỏi xin mong sẽ tìm ra tro tàn

Trèo đèo, lội suối, băng ngàn

Tro xin chẳng được, ngồi than thân mình:

"Ba đời trong mỗi gia đình

Tử thần đều viếng đâu dành riêng ta

Thương con thời có xót xa

Nhưng mà nghĩ kỹ chẳng qua luật trời!"

Tự nhiên lòng mẹ thảnh thơi

Ôm con trở lại quỳ nơi Phật đài

Chẳng còn than khóc kêu nài

Dù lòng vẫn nhớ con hoài khôn nguôi

Chuyến đi mẹ kể đầu đuôi

Rồi xin Phật dạy cho đôi lời vàng.

*

Phật nhân dịp đó phán rằng:

"Đời sinh ra vốn đã mang muộn sầu

Kiếp người sống chết liền nhau

Nói chung vạn vật trước sau vô thường

Con chết đi dù tiếc thương

Nhưng lòng đừng mãi vấn vương làm gì!"

Cuối cùng mẹ gạt sầu bi

An tâm ôm xác con về cất chôn,

Chuông chùa vang tiếng trong thôn

Lá vàng trước mộ, hoàng hôn cuối trời.

 

Tâm Minh Ngô Tằng Giao

(thi hóa phỏng theo TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO)

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
19/10/2016(Xem: 24297)
Tại phiên bế mạc Đại hội Liên minh Bưu chính Thế giới (UPU) lần thứ 26 tại Istanbul - Thổ Nhĩ Kỳ vừa diễn ra, em Nguyễn Thị Thu Trang học sinh lớp 9B trường THCS Nguyễn Trãi, huyện Nam Sách, Hải Dương (năm học 2015-2016) đã đọc bức thư hay nhất thế giới do em viết trước đại diện 190 quốc gia.
18/10/2016(Xem: 12035)
Có tâm hỷ là vui mừng không khổ - Hỷ ở đây tức vui với mọi người- Thấy điều lành nghe việc thiện vui tươi- Người thành tựu như chính mình làm được
18/10/2016(Xem: 10827)
Khi tâm xả là không còn chấp thủ Xả bỏ đi chuyện tốt xấu khen chê Buông bỏ điều từng đắm nhiễm đam mê Gây trở ngại đem đến nhiều phiền phức
18/10/2016(Xem: 11954)
Đêm khuya bước ra cửa Nhìn trăng sáng trời cao Ta chắp tay đứng lặng Lòng cảm xúc dâng trào .
16/10/2016(Xem: 11364)
Bi là giúp chúng sanh lìa đau khổ- Được ấm no bớt những cảnh cơ hàn- Hết khó khăn không còn phải gian nan- Sống vững chãi giữa cuộc đời xao động
15/10/2016(Xem: 12969)
Từ có nghĩa giúp chúng sanh an lạc - Không phân chia kẻ lạ hay người thân- Không so đo không tính toán xa gần- Tôn trọng hết mọi loài cùng vạn vật
12/10/2016(Xem: 10442)
Rồi một ngày sẽ đến Thân xác này rã tan Đất trở về với đất Còn chi nữa mà tham.
07/10/2016(Xem: 14390)
Chùm Tứ Cú Lục Bát có Nụ Cười hưởng ứng. Chào ngày mới Chào nhau ngày mới nắng vàng Từng tia hi vọng ấm tràn ước mơ Chào nhau ngày mới bài thơ Tiễn ngày qua đã trống trơ tiếng cười.
07/10/2016(Xem: 17343)
Vào Thu đọc thơ Nguyễn Du: Hai bài thơ mang tên Thăng Long của Nguyễn Du Một phần nghiên cứu dịch văn bản thơ chữ Hán Nguyễn Du qua bài Thăng Long 昇龍 [1] Tản mạn nhận diện Quốc hiệu Việt Nam trong ý thơ của bài thơ Thăng Long Khái niệm lịch sử của Thăng Long Thăng Long, là kinh thành - kinh đô của đất nước Đại Việt, từ vương triều Lý , (gọi là nhà Lý hoặc Lý triều, 1009-1225) cho đến triều đại nhà Lê Trung Hưng (1533-1789), tổng cộng 564 năm[2]. Thăng Long cũng được hiểu và được biết đến trong lịch sử vốn là địa danh tên cũ của Hà Nội hiện nay. Thăng Long nghĩa là “rồng bay lên” theo nghĩa Hán-Việt, hay 昇隆[4] nghĩa là “thịnh vượng”. Từ Thăng Long: “昇隆” là từ đồng âm với tên “昇龍: Thăng Long”, nhưng mang nghĩa khác với “昇龍”.
07/10/2016(Xem: 12693)
Hoàng cung cảnh đẹp vô cùng- Hoa thơm, cỏ lạ một vùng tươi xinh- Có hòn non bộ hữu tình- Có hồ bán nguyệt in hình trời mây