Thăm Mộ (thơ)

21/02/201718:35(Xem: 12379)
Thăm Mộ (thơ)
             
tham mo



THĂM  MỘ
Mộ đá xanh rêu giữa nắng chiều,
Rưng rưng khóe mắt cảnh buồn hiu.
Hàng dương phủ bóng chìm yên lặng,
Rặng núi in hình gợi tịch liêu.
Ân lớn Mẹ cho còn biết mấy,
Nghĩa sâu con trả chẳng bao nhiêu.
Nghìn thu đức sáng luôn thừa hưởng, 
Nhân ái vị tha dạy rất nhiều...
                                        Minh Đạo


hoa_hong (8)



                      MẸ
             
Đã đến tháng hai nhớ Mẹ thương,
Phòng không vắng vẻ dáng quanh tường.
Lay mình trở giấc là thao thức,
Ngẫm kỷ trần gian vốn chẳng thường…


Nhớ Mẹ theo Ba về xứ lạ,
Cháo rau vất vả tháng năm qua.
Quê chồng khốn khó cày lên đá,
Chịu đựng nuôi con sống hiền hòa.


Không ruộng chẳng vườn lên núi xa,
Thiếu cơm bụng rỗng đến chiều tà,
Công kênh lọn củi vài loong gạo,
Cũng đủ cho con đang đợi nhà.


Bao năm lăn lộn thoáng qua mau,
Gánh đậu chuyển qua cũng dãi dầu,
Dậy sớm thức khuya lo ế ẫm,
Trời chiều không hết dạ càng đau.


Phố thị Mẹ về vẫn nắng mưa,
Theo con nào chẳng khá hơn xưa,
Lưng còng đậu nặng ngày hai buổi,
Nghĩ cảnh trần gian chuyện thiếu thừa.


Rồi lại theo về ở phố đông,
Mẹ thương con cháu cứ ngồi trông,
Nhớ xưa thỉnh thoảng luôn thường nhắc,
Tiết kiệm chu toàn mọi việc xong.


Qui luật đời người không tránh khỏi,
Mắt mờ sức yếu dáng Mẹ xiêu,
Thương con đã nói điều cần nói,
Giả biệt trần gian gởi vạn điều.


Sướng ít khổ nhiều đời Mẹ thế,
Giấy sao viết hết chuyện dài thê,
Chông chênh khổ cực đời không vế,
Dưới ánh sao đời cảnh bước lê.


Lòng Mẹ bao la chẳng dáng hình,
Hy sinh tất cả cháu con vinh,
Bóng gương nhật nguyệt hằng soi chiếu,
Tỏa rạng đời sau sống chút tình…


                                          Minh Đạo

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
21/02/2011(Xem: 13628)
Khói mây liễu mộng, ngoại trần chơi Trăng nước hoa gương, gẫm lại cười Nhân ái đề huề, sao tỏ rạng...
21/02/2011(Xem: 17320)
chẳng phải là bài thơ hẹn ước chẳng phải là ý tưởng vẽ vời mà mùa xuân năm nay lại như cánh gió hân hoan đi về...
21/02/2011(Xem: 14741)
cánh rất mỏng chim đường bay rồi chẳng tới bởi mù sa hớt hải đuổi bên chân
19/02/2011(Xem: 28304)
Hết lòng trân quí và ghi nhớ ân đức sâu dầy của sư Sán Nhiên đã biên soạn và hiệu đính tập sách này, cũng như đã hoan hỷ cho phép Hội Thiện Đức ấn tống nhằm góp phần vào công cuộc hoằng hóa Phật pháp đem đến lợi lạc cho nhiều người. Hội Thiện Đức xin biết ơn sự ủng hộ tinh thần và tán thán sự phát tâm đóng góp tịnh tài của quý Phật tử và ân nhân cho công trình ấn tống này. Xin tri ân chị Thân Thục & anh Thân Phúc đánh máy tập sách; anh Thân Hòa trình bày sách bao gồm thiết kế bìa sách; anh Chúc Giới, anh Thiện Tánh, cùng anh Chúc Tùng cung cấp tài liệu và hình ảnh; Tâm Hân Huệ thỉnh ý sư Sán Nhiên; chị Tâm Thiện, chị Chơn Hạnh Bạch, chị Diệu Âm, Thân Hồng, cùng anh chị Lê Lộc (Lancaster, PA) phụ giúp sổ sách, liên lạc, và kêu gọi cho quỹ ấn tống.
19/02/2011(Xem: 14915)
Lá xanh cõng nắng sang mùa Phất phơ sương khói hiên chùa gọi nhau Làm thơ, hoa cỏ chụm đầu...
13/02/2011(Xem: 60385)
Vội đến, vội đi, vội nhạt nhòa Vội vàng sum họp vội chia xa. Vội ăn, vội nói rồi vội thở Vội hưởng thụ mau để vội già.
06/02/2011(Xem: 13229)
Đường của thơ là đầm đìa cát bụi Vùi nắng mưa sấm chớp bão bùng Và khơi mở dòng đời từ vô thủy...
02/02/2011(Xem: 11902)
"Trước sau nào thấy bóng người, Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông." Ngữ tình vương vấn. Tâm cảnh xao động. Mối tương dữ sâu sắc giữa thiên nhân trong lần Kim Trọng trở lại vườn Thúy tìm Kiều. Người xưa vắng bóng, chỉ thấy cảnh cũ hoa đào cười trước gió đông ngày xuân. Đó cũng chính là cảnh của Thôi Hộ trong bài thơ dưới đây.
02/02/2011(Xem: 17189)
1) Đối với các Thiền Sư thời Lý-Trần, sự ứng dụng tâm thức tu hành với những giáo lý Đức Phật truyền dạy là một. Trong Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Nhập Pháp Giới, Đức Phật khai thị về không gian: "Mười phương thế giới đồng nhất thể." Trong Kinh Kim Cang, Đức Phật mở bày ý niệm về thời gian: "Quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vi lai tâm bất khả đắc."
02/02/2011(Xem: 15509)
Sự hiện hữu đột biến phản diện của một đóa mai đã đánh lay tâm thức của người đọc một cách bất ngờ, tạo ra một mối nghi tình cho hành giả, trong hai câu song thất kết thúc của bài kệ, mà thiền sư Mãn Giác đã trao cho những người đi sau, nhân lúc cáo bệnh thị chúng của ngài, chúng vẫn còn tiếp tục chảy không biết bao nhiêu bút mực để nói về sự hiện hữu của chúng.