Mục Lục

11/02/201723:00(Xem: 13210)
Mục Lục

MỤC LỤC

 

PHẦN MỘT: THĂM BỆNH CA (nhiều tác giả)

Đức danh tỏ rạng – Tôn Nữ Hỷ Khương

Đại dương và hạt cát – Bác sĩ Bình

Có không – Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Gặp sư - Huệ Liên

Thăm bệnh - Tuệ Nhã

Thầy tôi - Tuệ Nhã

Khổ - Tuệ Nhã

Họa vần - Tuệ Nhã

Pháp âm - Hạnh Chơn

Giả bệnh - Hạnh Chơn

Như vầng trăng tỏ - Lê Hà Thăng

Nhớ mẹ ta xưa – Lê Hà Thăng

PHẦN HAI: NGOẠ BỆNH CA 2

Đại bi Quán Thế Âm

Sở thích

Dòng sông

Nguyện

Vũ trụ nằm ngang

Nói cùng cây cối

Chóng mặt ca

Chân tâm và chân thức

Đoạn dòng

Khổ và Niết bàn

Chỉ và quán

Quả báo thiện ác

Việc lành quả ác

Hành thâm Bát Nhã

Sắc

Thọ

Tưởng

Hành

Thức

Vui

Khổ

Bờ kia

Vỹ Dạ

Nghệ thuật khách quan

Dạo vườn

Sen bách diệp

Lan thuỷ tiên

Họa vần “Đây thôn Vỹ Dạ”

Mười thương

Trưa nghe heo kêu

Đêm nghe bò kêu

Xe chở trâu bò

Em bé quê

Nàng ve chai

Rượu

Xin cạo tóc

Tịch dương

Phép lạ

Vô niệm

Nằm xe đi đường dài

Vẫn ở nhà

Phật Di Đà

Vãng sanh

Tu đi

Không đề

Bún và thơ

Mưa

Trăng

Hoa quỳnh

Có không mê giác

PHẦN BA: CẢM TÁC CHÙA MIỀN BẮC

Đền Ngọc Sơn

Non thiêng Yên Tử

Hoa Yên – Tháp Tổ

Chùa Đồng

Suối Tắm

Chùa Sải

Chùa Hương

Chùa Vạn Niên

Chùa Hoàng Mai

Chùa Quảng Bá

Chùa Lý Quốc Sư

Côn Sơn Kiếp Bạc

Chùa Đậu

Chùa Thầy

Chùa Tiêu Sơn

PHẦN BỐN: VỀ BÀ CON THÂN HỮU

Lớp Trung Bộ Kinh

Diệu Dung và Diệu Thanh

Thiện Lai

Thầy Nhựt Trung Sóc Trăng

Phật tử chùa Khánh Anh (st)

Chùa Đại Giác Sóc Trăng

Hạnh Phật

Gặp lại người thân

Có ai

Phượng Anh

Doãn Nguyệt Minh

Bác sĩ Hoàng Xuân Tài

Minh Phúc

Bến Dã Viên

Vũ Chầm

Quân – Trang

Nguyễn Trọng Hiếu

Sư cô Tịnh Nghiêm

Sư cô Nhật Khương

Sư cô Huệ Nghĩa

Dương Hiếu Thảo

Anh chị Bửu Phu

Hồng Tuyến

Phúc Bình

Chó chùa

Mèo chùa

 

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
18/10/2016(Xem: 11749)
Đêm khuya bước ra cửa Nhìn trăng sáng trời cao Ta chắp tay đứng lặng Lòng cảm xúc dâng trào .
16/10/2016(Xem: 11219)
Bi là giúp chúng sanh lìa đau khổ- Được ấm no bớt những cảnh cơ hàn- Hết khó khăn không còn phải gian nan- Sống vững chãi giữa cuộc đời xao động
15/10/2016(Xem: 12778)
Từ có nghĩa giúp chúng sanh an lạc - Không phân chia kẻ lạ hay người thân- Không so đo không tính toán xa gần- Tôn trọng hết mọi loài cùng vạn vật
12/10/2016(Xem: 10262)
Rồi một ngày sẽ đến Thân xác này rã tan Đất trở về với đất Còn chi nữa mà tham.
07/10/2016(Xem: 14316)
Chùm Tứ Cú Lục Bát có Nụ Cười hưởng ứng. Chào ngày mới Chào nhau ngày mới nắng vàng Từng tia hi vọng ấm tràn ước mơ Chào nhau ngày mới bài thơ Tiễn ngày qua đã trống trơ tiếng cười.
07/10/2016(Xem: 17162)
Vào Thu đọc thơ Nguyễn Du: Hai bài thơ mang tên Thăng Long của Nguyễn Du Một phần nghiên cứu dịch văn bản thơ chữ Hán Nguyễn Du qua bài Thăng Long 昇龍 [1] Tản mạn nhận diện Quốc hiệu Việt Nam trong ý thơ của bài thơ Thăng Long Khái niệm lịch sử của Thăng Long Thăng Long, là kinh thành - kinh đô của đất nước Đại Việt, từ vương triều Lý , (gọi là nhà Lý hoặc Lý triều, 1009-1225) cho đến triều đại nhà Lê Trung Hưng (1533-1789), tổng cộng 564 năm[2]. Thăng Long cũng được hiểu và được biết đến trong lịch sử vốn là địa danh tên cũ của Hà Nội hiện nay. Thăng Long nghĩa là “rồng bay lên” theo nghĩa Hán-Việt, hay 昇隆[4] nghĩa là “thịnh vượng”. Từ Thăng Long: “昇隆” là từ đồng âm với tên “昇龍: Thăng Long”, nhưng mang nghĩa khác với “昇龍”.
07/10/2016(Xem: 12419)
Hoàng cung cảnh đẹp vô cùng- Hoa thơm, cỏ lạ một vùng tươi xinh- Có hòn non bộ hữu tình- Có hồ bán nguyệt in hình trời mây
07/10/2016(Xem: 9982)
Anh chàng Đại Lãng thuở xưa- Có tài đô vật rất ư tuyệt vời- Lại thêm sức mạnh hơn người,- Khi trong nội bộ ngay nơi viện nhà
07/10/2016(Xem: 12456)
Mười tám năm - Hoa Vô Ưu - Vườn xưa lấp lánh cánh hoa tâm - Mười tám năm Kẻ còn người mất - Hương Vô Ưu - Thơm ngát cõi vô thường
06/10/2016(Xem: 11105)
Cái chết từ từ sẽ đến Lo chi cho lắm cực thân Thảnh thơi nhẫn tu mà sống Có gì ta phải rối răm .