Nhớ Thầy

06/01/201721:09(Xem: 8910)
Nhớ Thầy
Nhớ Thầy
Nắng có còn phiêu du nơi cõi tịnh
Mây đượm buồn mơ tĩnh chốn hư vô
Thầy ra đi cũng bởi lẽ vô thường
Con ở lại khóc thương sầu tiễn biệt.
 
Thầy về với chốn chơn như bất diệt
Con một mình lạc lõng giữa nhân gian
Dẫu biết vô thường cơn huyễn mộng
Nhưng đôi dòng lệ vẫn trào tuôn.
 
Chốn Linh Diệu từ nay người hiển hiện
Cõi Ta Bà còn vọng tiếng pháp âm
Tiễn biệt người khói trầm hương nghi ngút
Áng mây buồn sao lấp nỗi thái hư.
 
Rồi ngày mai chẳng còn như trước nữa
Ai có còn nhớ dấu tích xưa đâu
Thầy về với vùng đất thiên thai
Con ở nơi đây gắng miệt mài.
 
Nỗi bơ vơ làm sao ai tường tận
Tâm sầu tịch mấy người thống thiết cho
Khói lam chiều từ nay cũng ảm đạm
Chốn Bồng Lai mây trắng hết thong dong.
 
Thiền viện hôm nay lá vàng rơi vô tận
Tiếng chuông trầm ngân vọng vạn nẽo mê
Thầy đi khuất bóng mờ nhân ảnh
Lưu lại nhân gian một dấu hài.
                                                Thích Thanh Viên
 
 
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
18/10/2016(Xem: 11638)
Đêm khuya bước ra cửa Nhìn trăng sáng trời cao Ta chắp tay đứng lặng Lòng cảm xúc dâng trào .
16/10/2016(Xem: 11142)
Bi là giúp chúng sanh lìa đau khổ- Được ấm no bớt những cảnh cơ hàn- Hết khó khăn không còn phải gian nan- Sống vững chãi giữa cuộc đời xao động
15/10/2016(Xem: 12690)
Từ có nghĩa giúp chúng sanh an lạc - Không phân chia kẻ lạ hay người thân- Không so đo không tính toán xa gần- Tôn trọng hết mọi loài cùng vạn vật
12/10/2016(Xem: 10164)
Rồi một ngày sẽ đến Thân xác này rã tan Đất trở về với đất Còn chi nữa mà tham.
07/10/2016(Xem: 14307)
Chùm Tứ Cú Lục Bát có Nụ Cười hưởng ứng. Chào ngày mới Chào nhau ngày mới nắng vàng Từng tia hi vọng ấm tràn ước mơ Chào nhau ngày mới bài thơ Tiễn ngày qua đã trống trơ tiếng cười.
07/10/2016(Xem: 17155)
Vào Thu đọc thơ Nguyễn Du: Hai bài thơ mang tên Thăng Long của Nguyễn Du Một phần nghiên cứu dịch văn bản thơ chữ Hán Nguyễn Du qua bài Thăng Long 昇龍 [1] Tản mạn nhận diện Quốc hiệu Việt Nam trong ý thơ của bài thơ Thăng Long Khái niệm lịch sử của Thăng Long Thăng Long, là kinh thành - kinh đô của đất nước Đại Việt, từ vương triều Lý , (gọi là nhà Lý hoặc Lý triều, 1009-1225) cho đến triều đại nhà Lê Trung Hưng (1533-1789), tổng cộng 564 năm[2]. Thăng Long cũng được hiểu và được biết đến trong lịch sử vốn là địa danh tên cũ của Hà Nội hiện nay. Thăng Long nghĩa là “rồng bay lên” theo nghĩa Hán-Việt, hay 昇隆[4] nghĩa là “thịnh vượng”. Từ Thăng Long: “昇隆” là từ đồng âm với tên “昇龍: Thăng Long”, nhưng mang nghĩa khác với “昇龍”.
07/10/2016(Xem: 12364)
Hoàng cung cảnh đẹp vô cùng- Hoa thơm, cỏ lạ một vùng tươi xinh- Có hòn non bộ hữu tình- Có hồ bán nguyệt in hình trời mây
07/10/2016(Xem: 9922)
Anh chàng Đại Lãng thuở xưa- Có tài đô vật rất ư tuyệt vời- Lại thêm sức mạnh hơn người,- Khi trong nội bộ ngay nơi viện nhà
07/10/2016(Xem: 12446)
Mười tám năm - Hoa Vô Ưu - Vườn xưa lấp lánh cánh hoa tâm - Mười tám năm Kẻ còn người mất - Hương Vô Ưu - Thơm ngát cõi vô thường
06/10/2016(Xem: 11100)
Cái chết từ từ sẽ đến Lo chi cho lắm cực thân Thảnh thơi nhẫn tu mà sống Có gì ta phải rối răm .