Trường Ca Larung Gar

12/08/201618:44(Xem: 14429)
Trường Ca Larung Gar
 Larung gar-2


TRƯỜNG CA LARUNG GAR
 
(Sakya Như Bảo)

 

 

 

Larung Gar! Larung Gar!

Sừng sững nguy nga

Điện đài tráng lệ

Ai đã từng đến với Larung Gar,

Để ngắm mặt trời lên sáng ngời trên những ngọn đồi xanh ngát?

Và trầm tư soi mình xuống thung lũng lúc về đêm?

 

Larung Gar! Larung Gar!

Bỏ lại sau lưng những náo nhiệt phồn hoa

Những lo toan tất bật

Những danh lợi mịt mù

Vượt những rặng núi tuyết cheo leo

Những cung đường hiểm trở

Những thảo nguyên hoang sơ nắng gió

Qua những cánh đồng hoa cải mênh mông rực rỡ sắc vàng óng ả

Ta về với Larung Gar

Nơi giữa lưng chừng thời gian và trời đất

Nơi mà bạc tiền và tri thức thế gian chẳng đáng giá một xu!  

 

Larung Gar! Larung Gar!

Học viện với ngàn ngôi nhà đỏ thẫm kề nhau

Được viền quanh bởi những ngọn đồi xanh mướt

Đêm đêm trên thung lũng tuyết rơi gió hát

Muôn vạn nến đèn rực rỡ ánh huyền linh

Trong tĩnh mịch khói sương hoa cỏ hữu tình

Tiếng Chuông ngân, tiếng Tù Và rền vang hòa trong lời Kinh trầm lắng:

 “Aum Mani Pad me Hum….”

Choáng ngợp, ngất ngây đêm Đông phương huyền bí

Ôi! Larung Gar kỳ vĩ!

Khiến bao kẻ đắm say, sững sờ, mê hoặc

Tuyệt tác thiên nhiên, quà tặng của đất trời

Ôi Larung Gar!

Không phải trí Du-già

Nào đủ sức ngợi ca!

 

Larung Gar! Larung Gar!

Đâu rồi dáng Tượng vương

Lẫm liệt uy nghi trên đỉnh đồi cao ngất

Đâu rồi tiếng Ca-lăng-tần-già

Lảnh lót buổi ban mai?

Đồi hoa dại trắng xóa li ti sáng nay

Còn chưa tan những hạt sương đêm óng ánh

Mà từng cọng cỏ non đã thảng thốt trở mình,

Nức nở mộng tàn canh! (xem tin tức Larung Gar bị phá hủy)

 

Vĩnh biệt Larung Gar! Vĩnh biệt Larung Gar!

Thôi hết rồi một thuở hoàng kim

Điện vũ vàng son, đền đài lầu cát

Nào nến, nào hoa, nào cờ, nào phướn

Nào trầm hương thơm ngát những ngày vàng!

Larung Gar hôm qua còn Phật viện thênh thang

Muôn tịch cốc trùng trùng san sát

Thung lũng đỏ giữa ngàn mây xanh ngát

Bốn vạn Tăng sĩ mười phương

Rợp đỏ rừng y diệu thường rực rỡ

Sáng nay biết phải về đâu?

 

Vĩnh biệt Larung Gar! Vĩnh biệt Larung Gar!

Từ nay, mỗi sớm mặt trời lên

Sẽ không còn tiếng chuông ngân thanh thoát

Tiếng Ốc Loa, chim hót

Bánh xe Mani ngỡ ngàng chệch choạng

Những vòng quay bất chợt đứt lìa

“Aum Mani Pad Me Hum”….

 

Vĩnh biệt Larung Gar! Vĩnh biệt Larung Gar!

Ngày hai mươi tháng bảy vừa qua

Cuồng phong từ đâu ập tới

Lửa cháy ngút trời

Kèo cột rụng rơi

Hàng ngàn tượng, tranh ứa lệ

Muôn vạn Kinh sách oằn mình rũ rượi

Lớp lớp Tăng chúng chơi vơi!

Mạn-đà-la lấp lánh vỡ tan rồi!

 

Ôi! Larung Gar! Larung Gar!

Tuyết sơn sáng nay máu nhuộm đỏ đồi

Những ngôi nhà gỗ bậc thang với hàng cờ ngũ sắc

Những rừng y rực màu đỏ thẩm

Chìm trong biển lửa bạo tàn!

 

Larung Gar! Larung Gar!

Sáng nay chú tiểu thơ ngây tung tăng đi tìm hoa dại

Đâu hay đám sài lang kéo đến

Nghiến nát nụ cười em

Tuổi thơ trong veo em cất kỹ tận cuối chân trời

Cách rất xa ngoài kia thế giới

Những tưởng an bình, vuốt nanh không với tới

Thế mà cũng chẳng thoát nổi móng sắc dài

Của loài cọp sói hùm beo!

 

Ôi Larung Gar! Larung Gar!

Ráng đỏ chiều nay vàng vọt mất rồi

Thung lũng tươi xanh ủ ê mùi cỏ nát

Rừng hoa dại hôm qua còn thơm ngát

Chiều nay rúm ró nỗi kinh hoàng!

Trên đỉnh đồi từng cụm tuyết điềm nhiên đông đặc

Chẳng nương tay ném thẳng xuống đất Phật bình an!

 

Ôi Padmakara! Ôi Milarepa!

Người có hay chăng?

Larung Gar giờ này

Rã rời một bãi tha ma

Rập rờn bóng rằn ri, họng súng

Những đàn chim Kên chờ chực

Mùi tử khí bao trùm khắp rặng núi Tuyết đớn đau!

Những cánh hoa rừng quắc quéo tụm vào nhau

Thung lũng chiều nay mặt trời ứa ra màu máu 

Núi không còn xanh, núi ngằn ngặt tím.

Ba ngàn thế giới im lìm

Nhìn Larung Gar trút hơi tàn vĩnh biệt!

 

Larung Gar! Larung Gar!

Tiếng kêu cứu chìm trong tuyệt vọng

Bởi người ta đang bận dự Hội nghị Nhân quyền

Người ta đang bận vỗ tay tán thưởng những Tham luận triền miên

Về một thế giới tự do, không bạo cường, không xâm lấn.

Những giọng người vẫn hùng hồn trong những Hội trường kín mít

Biết nổi sao, Larung Gar đang hấp hối, cong oằn?

Nghe làm sao tiếng gió rít trở trăn?

Tiếng giầy đinh đóng xuống đường nhức nhối

Phật điện trang nghiêm lố nhố bọn sài lang phách lối

Tăm tắp những cánh tay trụi trần hắc ám

Và dùi cui giáng thẳng xuống đời nhau!

 

Larung Gar! Larung Gar!

Tiếng kêu cứu chìm trong tuyệt vọng

Chỉ có núi rừng hoang vu gào thét xé lòng

Đêm nay Larung Gar

Không tiếng Kinh cầu

Không tiếng Linh, Tiêu, Loa, Ốc

Chỉ có tiếng ma quỷ rú lên ghê rợn

Tiếng đập cánh hả hê của bầy Kên Kên, và Quạ, và Diều

Loẹt xoẹt ngấu nghiến trên những thân người sõng sượt…

Nhì nhùng…. day dứt….

Những làn roi quất thẳng vào tim!

Đau lịm thắt trời xanh ơi, tình Linh sơn cốt nhục!

 

Vĩnh biệt Larung Gar! Vĩnh biệt Larung Gar!

Giấc mộng Nalada một thời thôi tan vỡ!

Larung Gar huy hoàng, Larung Gar điêu tàn

Rừng núi xác xơ!

Thung lũng đỏ chìm trong màn lửa đỏ

Chiều nay, loang lỗ trên vùng cỏ xanh tuyết trắng

Rực lên, đỏ ối những phận người!

 

Vĩnh biệt Larung Gar! Vĩnh biệt Larung Gar!

Nỗi đau câm lặng

Hong lên buổi chiều tàn thu

Khói sập soài không dứt

Trợn trạo rừng xanh nuốt không trôi niềm tủi nhục

Quốc phá gia vong!

 

Vĩnh biệt Larung Gar! Vĩnh biệt Larung Gar!

Gió vẫn rít từng cơn đau nhói

Nến khuya nức nở nghẹn ngào

Tràng hạt đứt lìa lăn lóc

Hiền giả tôi, biết phải về đâu?

 

Từ tạ nhé Larung Gar!

Đêm trắng này ta tặng nhau khúc trường ca vĩnh biệt

Như bao người, như bao loài có máu, có tim

Qua khỏi đêm nay, tôi sẽ không nhớ về một Larung Gar kỳ ảo

Ở tận vùng đất Tạng xa xôi

Bởi trong tim tôi Larung Gar đã có sẵn đây rồi!

Tượng Phật không còn, Điện đài thành tro bụi

Nhưng có một điều nhân loại phải tin

Rằng Phật Tâm vẫn bất diệt dẫu vô hình

Những ngôi Chùa tâm linh vẫn sáng ngời vững vàng hùng vĩ

Trong muôn vạn tâm hồn Tăng sĩ nơi đây.

Lửa dẫu thiêu tàn hàng ngàn Kinh sách

Đốt làm sao Trí tuệ bậc xuất trần?

Đèn nến gãy rời, tràng hạt dẫu đứt tung

Ngăn sao nỗi đạo tâm hàng Thượng sĩ?

Chùa vẫn trong ta

Phật đang trong ta

Trời Tự Tánh bao la

Tâm Kim Cương bất hoại

Trí Bát Nhã nào xa

Ngọc thiêu sắc vẫn trong ngần

Sen trong biển lửa thơm lừng trổ hoa.[1]

 

Đại Tòng Lâm, 23:30, 20/7/2016

Sakya Như Bảo

 

 

 



[1] Dịch ý từ hai câu cuối trong bài kệ Thị Tịch của Thiền sư Ngộ Ấn (thời Lý):

“Ngọc phần sơn thượng sắc thường nhuận, 
Liên phát lô trung thấp vị càn.”

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22/05/2025(Xem: 6759)
Thơ mộng, uyên bác, thấu suốt Phật lý... Những dòng thơ của Thầy Tuệ Sỹ hiện lên trang giấy như các dãy núi nơi những đỉnh cao ẩn hiện mơ hồ giữa các vầng mây. Do vậy, dịch thơ Thầy Tuệ Sỹ qua tiếng Anh cũng là một công trình lớn, khi phải cân nhắc từng chữ một để giữ được cái thơ mộng, cái uyên bác, và cái nhìn thấu suốt ba cõi sáu đường của một nhà sư thiên tài, độc đáo của dân tộc. Hai dịch giả Terry Lee và Phe X. Bạch đã làm được phần rất lớn trong việc giới thiệu thơ của Thầy Tuệ Sỹ cho các độc giả trong thế giới Anh ngữ.
22/05/2025(Xem: 5631)
Âm nhạc được xem là nghệ thuật giúp tỉnh thức ! Chỉ một lời nhắn nhủ đánh động tâm linh Mời ngâm nga hai lời nhạc khiến cảnh tỉnh mình (1) Trong hành trình tâm thức , thong thả nhìn vũ trụ, trò đời trưởng dưỡng
20/05/2025(Xem: 6456)
Hôm nay con vào nghe Thầy giảng về từ thiện Con vào chậm nửa tiếng anh Huệ Sơn hỏi Thầy Về từ thiện xã hội ban đầu phát tâm lành Nhưng sau sanh bất thiện xin Thầy giảng cho nghệ
17/05/2025(Xem: 5330)
Sống một kiếp người, bình an là được! Hai bánh, bốn bánh chạy được là được Tiền ít ,tiền nhiều sống được là được Người xấu, người đẹp dễ coi là được Người trẻ, ngườì già miễn khỏe là được Nhà giàu, nhà nghèo hòa thuận là được Ông xã về trễ miễn về là được Bà xã càu nhàu miễn thương là được
17/05/2025(Xem: 8767)
Trong 6 năm qua, từ năm 2019 đều đặn mỗi năm Viên Giác Tùng Thư và Báo Viên Giác có xuất bản một Đặc San Văn Hóa Phật Giáo. Và chính quý Ngài và quý thân hữu đã đóng góp những bài viết giá trị (xin xem 1 bản mẫu của năm 2024 đính kèm). Chúng con/ chúng tôi tiếp nối truyền thống đó nên viết Thư này kính mong quý Ngài tiếp tục gởi bài cho Đặc San 2025 (chi tiết xin xem Thư đính kèm). Đặc San năm nay mang chủ đề là "TÂM BÌNH - THẾ GIỚI BÌNH". ấn hành vào tháng 8 năm 2025 nhân dịp Chào mừng Đại lễ Vu Lan Phật lịch 2569.
16/05/2025(Xem: 3949)
Ngày xưa con bé mẹ bồng Bón cơm mớm sửa quạt nồng Mẹ chăm Bây giờ Mẹ tuổi gần trăm Thân vương bệnh yếu Mẹ nằm con lo Sớm trưa đều đặn thăm dò Cận kề bên cạnh nhỏ to lời lành Dâng Mẹ chay tịnh cơm canh Thuốc thang sửa uống để nhanh phục hồi Mỗi khi trời nóng bức oi Tay cầm quạt phẩy như thoi đưa đều Tạo nên thoáng mát hiu hiu Giúp Mẹ an giấc thiu thiu trưa hè Bài thơ dâng tặng, câu vè Nhờ người đọc để Mẹ nghe vui lòng Phận con chí hiếu rõ trông Khiến người ngưỡng mộ nhủ lòng noi gương.
15/05/2025(Xem: 5528)
Đừng định kiến vì không thể thích nghi với đời sống hiện đại ! Khi nhịp sống, công cụ , cách tiếp cận khác biệt xa Nào …qua YouTube cùng nghe pháp thoại miễn là Cần một thiết bị để nghe rõ, giữ gìn mãi trong tâm trí Đến từ bài giảng của bậc cao tăng truyền trao chân lý
14/05/2025(Xem: 7380)
Tháng tư ngập tràn nắng gió Cây cỏ xanh tươi Trời đất mười phương lộng lẫy Ba ngàn thế giới hoan ca
14/05/2025(Xem: 5794)
Mẹ bệnh nằm nhà thương Thầy tự tay săn sóc Dỗ Mẹ từng bữa ăn Cho Mẹ vui ngon miệng Mau khỏe khỏi bệnh căn Thầy cầm bàn tay Mẹ Truyền hơi ấm tình thương Của người con chí hiếu Tình Mẹ như ngàn phương Kính thương cầm tay Mẹ Thầy chăm sóc thương yêu Cắt móng tay Mẹ hiền Con thấy Mẹ bình yên Chúm chím Mẹ nhoẻn cười Con Mẹ liều thuốc tiên! Ngày xưa khi còn trẻ Mẹ lặn lội bờ sông Cho con nguồn hạnh phúc Mẹ phấn đấu nuôi con Chẳng quảng bao nhọc nhằn Giờ con Mẹ là Tăng Theo gót Đức Thế Tôn Luôn kính yêu Mẹ già Lòng Mẹ thật bao la Tình Thầy khắp gần xa Thương cho đời nhân thế Khổ đau kiếp con người Thầy giảng Tứ Diệu Đế Lòng Mẹ thật an vui. Thầy đọc cho Mẹ nghe Những câu vè Mẹ kế Ngày xưa nơi làng Mẹ Mẹ vui hồi tưởng lại Sửa cho Thầy từng câu Chỗ nào tên không đúng Thầy cười trông thật vui Khi thấy Mẹ minh mẫn Con xem hình ảnh ấy Cảm động sao cảm động Nước mắt bỗng dâng trào Bài pháp về lòng hiếu Từ Thầy con cảm nhận Nhân ngày Phật sơ sanh Con kính
13/05/2025(Xem: 9374)
Sự chứng ngộ Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác (Sanskrit: Anuttara-samyak-sambodhi) là một thuật ngữ cao quí, giác ngộ hoàn toàn không sai lầm vượt qua mọi giới hạn loại bỏ hoàn toàn vô minh, thấu rõ trọn vẹn bản chất của vũ trụ và Phật đã nói ra giáo pháp, chỉ rõ con đường, phương pháp để hành giả chứng ngộ, an lạc, giải thoát. Giáo pháp đã được truyền thừa qua kinh điển mà thiền đường, tu viện…nơi các nhà sư giảng giải khơi thông những khúc mắc, hoài nghi, hướng cho phật tử đến tu tập ngày càng thấu rõ hơn. Ghi ơn sự truyền dạy ấy trong tập nầy tác giả phần lớn những bài thơ tán thán công đức chư vị giảng sư, trụ trì, hành giả … và hoạ lại những bài thơ của chư vị Tỳ Kheo, thi hữu.