Bà Triệu (thơ)

15/12/201506:23(Xem: 30994)
Bà Triệu (thơ)

Trieu Thi Trinh
BÀ TRIỆU - Triệu Thị Trinh

 

- Tên thật: Triệu Thị Trinh, hoặc Triệu Thị Chinh, Triệu Trịnh Nương, còn có tên: Triệu Ẩu, Nhụy Kiều Tướng Quân, Lệ Hải Bà Vương.

- 19 tuổi, thu phục con voi trắng một ngà dữ dằn, phá hại mùa màng, giết hại dân lành. Chính con voi này Bà cỡi mỗi khi ra trận. Cũng năm 19 tuổi này, Bà đã vào rừng lập chiến khu tại Sơn Tùng, hàng ngàn tráng sĩ xin theo, học kỹ chiến thuật, rèn binh bày trận. Và chính nơi đây là Trung tâm cuộc Khởi Nghĩa vào năm 248, thời kỳ Bắc thuộc lần Thứ Hai.

- Bà tuẩn tiết ngày 21 tháng 02 năm Mậu Thìn 248 tại Núi Tùng, Thanh Hóa, lúc bấy giờ Bà mới 23 tuổi.

- Bà sinh tại huyện Nông Cống, Thanh Hóa. Nhưng về năm sinh, tôi xin đánh dấu hỏi ở đây: Nhiều sử sách bài viết đã ghi nằm trên tủ sách và online trên hệ mạng, rõ ràng rằng: "Triệu Thị Trinh - Bà Triệu (225-248)" ; Lại rõ ràng rằng: "Bà Triệu Thị Trinh sinh ngày 02 tháng 10 năm 226 (Bính Ngọ)". Điểm này xin dành cho những bậc Thức giả và các nhà Sử học.

Trân trọng.

 

Nhớ về Bà Triệu nước ta

Nửa đầu thế kỷ thứ ba diệt Tàu

Tên Bà rực sáng minh châu

Thoi đưa không đổi sắc màu thời gian

Đọc kỹ sử sách rõ ràng

Truyền trao dấu ấn thiếp vàng điểm son

Vừa mới mười chín trăng tròn

Mà lưu đậm nét kiêu hùng tuyệt luân

Hăm ba đang độ thanh xuân

Mà lưu đậm nét non sông nước này

Sơn Tùng còn mãi xưa nay

Hàng năm Mở Hội tỏ bày nhớ ơn

Ơn Bà cao cả ngàn cân

Khắc ghi tưởng nhớ ân cần nêu gương

Cái gương Nữ Kiệt đường đường

Anh Thư Nước Việt phi thường mấy ai

Cái gương tuổi mới hoa cài

Hai ngàn năm sử không phai bụi mờ

Cái gương tuổi mộng ươm mơ

Mà cả Đất Nước phụng thờ ngưỡng tôn

Cái gương tuổi ngọc chưa tròn

Mà cả Dân Tộc bảo tồn truyền lưu

Sánh cùng quân tử trượng phu

Có trang oanh liệt Nữ Lưu Lạc Hồng

 

Tất cả cùng một lòng yên lặng

Tất cả cùng một dạ nhớ ghi

Từng chữ của Bà, ngân hà xao xuyến

Từng lời của Bà, vũ trụ ngất ngây

Con tạo ngưng lay

Con quay thôi động

Huống gì ếch nhái

Đáy giếng thổi bộng

Huống gì giun dế

Lải nhải lao chao

Vũ trụ thắp trăng sao

Thái hư soi tinh tú

 

Trên trái đất này, ai nổi bật nhất trong hàng nữ giới

Hiệp nhất đồng tình, đó là Nữ Kiệt Việt Nam

Khắp nhân loại này, ai oanh liệt nhất trong hàng nữ giới

Hiệp ý nhìn nhau, đó là Anh Thư Nước Việt

 

Hãy công bằng nói ra cho biết

Hãy công tâm nói thiệt cho nghe

Ô hay, truyền tụng thành vè

Sao không lên tiếng, e dè thế sao

Ô hay, tục ngữ ca dao

Mà không há biết, thảo nào mù u

Mù u mù ũ mù ù

Cho lòe chút sáng bớt ngu tối òm

Tối òm tối õm tối om

Con đom đóm thắp chập chờn đêm đen

Xin thêm chút nữa ánh đèn

Đèn dầu cũng quý vén rèm hoang vu

 

Xin mạn phép tuyên xưng ngôn tự

Xin chân thành tuyên đọc ngôn từ

Lời Bà Triệu trả lời Cha hỏi:

- "Lớn lên con sẽ làm gì?"

- "Thưa Cha,

Lớn lên, con đánh đuổi giặc

Như Bà Trưng Trắc, Trưng Nhị"

Lúc 19 tuổi đẹp hơn son

Có người gạ hỏi việc chồng con

Bà nói:

"Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh

Chém cá kình giữa Biển Đông

Đánh đuổi quân Ngô

Cởi ách nô lệ

Há chịu cúi đầu làm tì thiếp người ta ư."

 

Nhìn trông lên cả thái hư

Thử xem có đẹp được như thế này

Nhìn trông lên khắp trời mây

Thử xem vũ trụ tỏ bày nghe sao

Rằng, không có chỗ còn cao

Huống chi lởm chởm gió vèo tả tơi

Rằng, không còn chỗ tuyệt vời

Huống chi cát bụi lở bồi trần gian

Càn khôn ê ẩm khôn càn

Khó ghi khắc nổi son vàng Triệu Trinh

 

Đồng dao phát động

Rừng núi vọng vang:

"Có Bà Triệu tướng

Vâng lệnh Trời ra

Trị voi một ngà

Dựng cờ mở nước

Lệnh truyền sau trước

Theo gót Bà Vương."

 

Sá gì quân giặc Ngô

Hỡi Tàu phù Phương Bắc

Không mặt mày tái mét

Không bủn rủn tay chân

Sợ hớt hãi lượng phần

Trước uy phong lẫm liệt

Nghe tên Bà đã khiếp

Nhắc tên Bà đã run

Thấy bóng Bà rợn hồn

Tướng, Binh nhũn hơn bún

Thảng thốt vội vang câu:

"Hoành qua đương hổ dị

Đối diện Bà Vương nan"

Cầm giáo đánh hổ dễ dàng

Gặp Bà ơi hỡi vô vàn khó khăn

 

Ô kìa, ô kìa kìa

Hãy nhìn trông Bà Triệu:

Mặc giáp đồng, đồng sáng loáng

Cài trâm vàng, vàng hoàng kim

Mang guốc ngà, ngà Trinh Triệu

Cỡi voi trắng, trắng Triệu Trinh

Voi một ngà, uy quắc thước

Một mình Bà, vũ bão khinh

Xông pha ra ngoài chiến trận

Như đi vào chỗ không người

Khói lửa bụi bay mù mịt

Nhụy Kiều rực rỡ tinh khôi

Sá gì Bắc quân lang sói

Sá gì chồn cáo Ngô binh

Xâm thực bạo tàn đỉa đói

Thất điên bát đảo hồn kinh

Một trận dẹp tan quân giặc

Một trận sạch bóng quân thù

Bà Triệu oai phong lẫm liệt

Danh Bà truyền tụng thiên thu

 

Sơn Tùng tuẩn tiết đời Trinh Triệu

Hăm ba tuổi ngọc rạng Triệu Trinh

Núi sông lan tỏa hồn sông núi

Gấm vóc quê hương tuyệt bóng hình

Bà đi nhật nguyệt lung linh

Bà đi trời đất nghiêng mình tiếc thương

Sử vàng ghi khắc tấm gương

Ngàn năm chói lói tư lường thẩm sâu

Biển kia dù cạn biển dâu

Sông kia dù cạn trên đầu nguồn khô

Danh Bà tuyệt diệu như mơ

Xin ghi khắc mãi tôn thờ muôn năm

Tên Bà chạm ngọc thiếp vàng

Xin ghi trên khắp nẻo đường quê hương

Hình Bà muôn kính ngàn thương

Phụng thờ chiêm bái khói hương muôn đời

"Dù cho vật đổi sao dời"

Nhưng Bà còn mãi rạng soi vô cùng.

 

Ngày 14-12-2015

TNT Mặc Giang

Ý kiến bạn đọc
17/03/201912:21
Khách
Về năm sinh của Bà Triệu, tôi xin có ý kiến thế này:
Bà Triệu phất cờ khởi nghĩa và hy sinh trong năm Mậu Thìn tức năm 248. Sử sách nói năm hy sinh, Bà 23 tuổi là theo cách tính tuổi ta, có tính đến tuổi mụ. Như vậy, theo cách tính thông thường, không có tuổi mụ thì Bà hy sinh năm 22 tuổi. Kết luận lại là Bà Triệu sinh năm Bính Ngọ 226 là chính xác ạ!
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
21/02/2011(Xem: 13487)
Khói mây liễu mộng, ngoại trần chơi Trăng nước hoa gương, gẫm lại cười Nhân ái đề huề, sao tỏ rạng...
21/02/2011(Xem: 17308)
chẳng phải là bài thơ hẹn ước chẳng phải là ý tưởng vẽ vời mà mùa xuân năm nay lại như cánh gió hân hoan đi về...
21/02/2011(Xem: 14668)
cánh rất mỏng chim đường bay rồi chẳng tới bởi mù sa hớt hải đuổi bên chân
19/02/2011(Xem: 28245)
Hết lòng trân quí và ghi nhớ ân đức sâu dầy của sư Sán Nhiên đã biên soạn và hiệu đính tập sách này, cũng như đã hoan hỷ cho phép Hội Thiện Đức ấn tống nhằm góp phần vào công cuộc hoằng hóa Phật pháp đem đến lợi lạc cho nhiều người. Hội Thiện Đức xin biết ơn sự ủng hộ tinh thần và tán thán sự phát tâm đóng góp tịnh tài của quý Phật tử và ân nhân cho công trình ấn tống này. Xin tri ân chị Thân Thục & anh Thân Phúc đánh máy tập sách; anh Thân Hòa trình bày sách bao gồm thiết kế bìa sách; anh Chúc Giới, anh Thiện Tánh, cùng anh Chúc Tùng cung cấp tài liệu và hình ảnh; Tâm Hân Huệ thỉnh ý sư Sán Nhiên; chị Tâm Thiện, chị Chơn Hạnh Bạch, chị Diệu Âm, Thân Hồng, cùng anh chị Lê Lộc (Lancaster, PA) phụ giúp sổ sách, liên lạc, và kêu gọi cho quỹ ấn tống.
19/02/2011(Xem: 14826)
Lá xanh cõng nắng sang mùa Phất phơ sương khói hiên chùa gọi nhau Làm thơ, hoa cỏ chụm đầu...
13/02/2011(Xem: 60227)
Vội đến, vội đi, vội nhạt nhòa Vội vàng sum họp vội chia xa. Vội ăn, vội nói rồi vội thở Vội hưởng thụ mau để vội già.
06/02/2011(Xem: 13194)
Đường của thơ là đầm đìa cát bụi Vùi nắng mưa sấm chớp bão bùng Và khơi mở dòng đời từ vô thủy...
02/02/2011(Xem: 11872)
"Trước sau nào thấy bóng người, Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông." Ngữ tình vương vấn. Tâm cảnh xao động. Mối tương dữ sâu sắc giữa thiên nhân trong lần Kim Trọng trở lại vườn Thúy tìm Kiều. Người xưa vắng bóng, chỉ thấy cảnh cũ hoa đào cười trước gió đông ngày xuân. Đó cũng chính là cảnh của Thôi Hộ trong bài thơ dưới đây.
02/02/2011(Xem: 17164)
1) Đối với các Thiền Sư thời Lý-Trần, sự ứng dụng tâm thức tu hành với những giáo lý Đức Phật truyền dạy là một. Trong Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Nhập Pháp Giới, Đức Phật khai thị về không gian: "Mười phương thế giới đồng nhất thể." Trong Kinh Kim Cang, Đức Phật mở bày ý niệm về thời gian: "Quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vi lai tâm bất khả đắc."
02/02/2011(Xem: 15489)
Sự hiện hữu đột biến phản diện của một đóa mai đã đánh lay tâm thức của người đọc một cách bất ngờ, tạo ra một mối nghi tình cho hành giả, trong hai câu song thất kết thúc của bài kệ, mà thiền sư Mãn Giác đã trao cho những người đi sau, nhân lúc cáo bệnh thị chúng của ngài, chúng vẫn còn tiếp tục chảy không biết bao nhiêu bút mực để nói về sự hiện hữu của chúng.