Quan Âm Thị Kính (thơ)

16/05/201516:55(Xem: 18258)
Quan Âm Thị Kính (thơ)


quan am thi kinh

QUAN ÂM THỊ KÍNH

1.
Trong các truyện cổ tích xưa, tôi nghĩ
Truyện Quan Âm Thị Kính được nhiều người
Biết và đọc, vì có nhiều triết lý
Về nhân tình thế thái, chuyện muôn nơi.

Sao thế nhỉ, sao cuộc đời cứ bắt
Người đàn bà phải gánh chịu buồn đau
Và oan trái, mới được tôn làm phật
Để quanh năm phải mưa nắng dãi dầu?

Trong khi đó, trong đời thường, lặng lẽ
Lo đảm đương các thiên chức đàn bà,
Họ là phật, phật chính danh, cứu thế,
Cứu hàng ngày cuộc sống thật chúng ta.

Họ là phật, hay cũng gần như vậy,
Thế mà ta không kính trọng, tôn thờ.
Cái khái niệm đàn bà và nước mắt
Không vô tình được nhắc mãi trong thơ.

2.
Chuyện kể xưa, có một người đức hạnh
Đã trải qua chín kiếp, chín đời người,
Luôn tu luyện mà vẫn chưa thành thánh,
Nên Thích Ca quyết định kiếp thứ mười

Cho đầu thai thành một trang nhi nữ,
Một gia đình khá giả nước Cao Ly.
Chả là Ngài lần cuối cùng muốn thử
Để cho thành Bồ Tát của Mầu Ni.

Cô bé ấy được sinh ra như ý,
Được đặt tên Thị Kính, lớn, đến ngày
Được gả chồng, thư sinh Sùng Thiện Sỹ,
Quả trai tài gái sắc, hiếm xưa nay.

Một tối nọ, vợ ngồi bên may vá,
Chàng thư sinh nằm đọc sách, và rồi
Chàng ngủ thiếp, thấy sợi râu trên má
Mọc khá dài, lại mọc ngược, khó coi,

Sẵn con dao, nàng cầm lên định cắt
Thì chồng nàng chợt tỉnh, vội kêu lên
Vì thầy vợ đang dí dao vào mặt,
Giết anh ta - một tội ác đê hèn!

Bỏ ngoài tai lời thanh minh của vợ,
Chàng thư sinh cùng bố mẹ, ông bà
Cứ một mực kết tội nàng vô cớ,
Rồi dắt nàng đem trả lại thông gia.

Thật nhục nhã, thật đau lòng, hơn thế,
Thật oan sai nhưng không biết làm gì,
Để giải oan và đền ơn bố mẹ,
Nàng cuối cùng đã quyết định ra đi,

Đi lặng lẽ, không một người hay biết,
Để than ôi, lần nữa lại đề tài
Của đàm tiếu, rằng hư thân, mất nết,
Nàng bỏ nhà, bỏ cha mẹ theo trai.

Nàng cởi bỏ bộ áo quần phụ nữ
Rồi cải trang thành nam giới, cạo đầu
Xin vào tu trong ngôi chùa Vân Tự,
Nguyện một lòng nương cửa phật dài lâu.

Sư trụ trì lâu năm ngôi chùa ấy,
Vốn vị tha, đã chấp nhận, và nàng
Được đổi tên thành Kính Tâm, từ đấy
Cuộc đời nàng lặng lẽ lật sang trang.

Tưởng như vậy đã yên xuôi mọi nhẽ,
Thế mà không, lại tai họa bất ngờ.
Trong làng ấy có một cô gái trẻ
Tên Thị Mầu, khá nhẹ dạ, ngây thơ.

Cô là con một phú ông có cỡ,
Theo mẹ cha lên lễ phật, và rồi,
Thấy Kính Tâm, bèn thầm yêu trộm nhớ,
Cũng nhiều lần tỏ tình ý, than ôi,

Nhà sư trẻ Kính Tâm không đáp lại,
Khiến cô ta rất thất vọng, buồn rầu.
Vốn lẳng lơ, và trong cơn tự ái,
Đã tư tình với đầy tớ, về sau

Đến ngày tháng, bụng to, làng phạt vạ.
Bị người ta căn vặn mãi, cô này
Bèn đổ lỗi cho Kính Tâm tất cả.
Thế là nàng, dẫu lý đúng, tình ngay,

Vẫn bị đánh rất đau, và sư cụ
Phải đứng ra xin nộp phạt, thế là
Được về chùa, không sống trong phòng cũ,
Mà ở ngoài mái chái, tít đằng xa.

Cái nhân vật Thị Mầu này, phải nói,
Gian thì gian, nhưng thú vị. Sau này
Được sân khấu tô vẽ thêm, rất nổi
Và cũng thường được nhắc đến xưa nay.

Một hình tượng dân gian vui, dân dã,
Nhất là khi có Mẹ Đốp đi kèm,
Vừa chua ngoa vừa lẳng lơ mà ả
Nhận được nhiều tán thưởng của người xem.

Khác Thị Kính suốt đời luôn nhẫn nhục,
Thị Mầu ta thì phản kháng, bất cần.
Một biểu tượng đấu tranh đòi hạnh phúc,
Đậm chất người, đầy sức sống, vân vân...

3.
Khi Thị Mầu sinh con trai, đứa bé
Bị phú ông bắt trả lại nhà chùa,
Trả Kính Tâm lúc này đang lặng lẽ
Ngồi một mình niệm Phật giữa ban trưa.

Nghe tiếng khóc, nàng đi ra, chợt thấy
Đứa con trai bị bỏ lại bên đường,
Còn Thị Mầu thì bước đi như chạy.
Vồn là người trắc ẩn, động lòng thương,

Nàng Thị Kính, tức Kính Tâm, vội vã
Đem về nuôi, từ đó một mình nàng
Vừa chịu nhục, vừa khổ tâm, vất vả
Bế con đi xin bú sữa khắp làng.

Khi thằng bé lên ba, ngoan, giống “bố”,
Cũng là khi Đức Phật Tổ nghĩ thầm:
Con người này nhận đủ phần đau khổ,
Đã đến ngày thành Bồ Tát Quan Âm.

Liền sau đó, thấy toàn thân bải hoải,
Sư Kính Tâm, không đau đớn, nhẹ nhàng,
Nằm xuống chết, có phong thư để lại
Nhờ con trai đưa đến hộ nhà nàng.

Lúc liệm xác chôn cất nàng, hết thảy
Rất ngạc nhiên và cũng rất đau lòng
Khi thấy nàng là nữ nhi. Nghe vậy
Người trong làng kéo nhau đến rất đông.

4.
Trong khi đó, thư sinh Sùng Thiện Sỹ,
Nhờ bức thư nàng gửi lại, lúc này
Biết mình sai, liền vội vàng chuẩn bị
Kíp lên đường đến dự lễ ma chay.

Sư trụ trì cùng nhà chùa làm lễ
Để giải oan cho Thị Kính; dân làng
Bắt phú ông chi tiền mua vật tế,
Còn Thị Mầu phải theo bước xe tang.

Bỗng đột nhiên một đám mây ngũ sắc
Từ trên cao hạ xuống đúng ngang tầm
Chiếc quan tài, Phật Thích Ca nghiêm khắc
Cho nàng thành một Bồ Tát Quan Âm.

Lại nói chuyện thư sinh Sùng Thiện Sỹ,
Rất đau lòng, khi kết thúc ma chay,
Muốn suốt đời được thảnh thơi yên nghỉ,
Đã đi tu, và ở lại chùa này.

5.
Nàng Thị Kính vậy là lên thành phật,
Nhưng than ôi, vẫn còn đó trên đời
Nhiều đau khổ và rất nhiều nước mắt,
Cũng rất nhiều những đứa bé con rơi.

Ít hy vọng nhiều người nơi hạ thế
Một ngày kia thành Bồ Tát, và Bà,
Dẫu nghìn mắt và nghìn tay, có thể
Cứu loài người thoát nỗi khổ trầm kha.

Vâng, rất ít, nhưng vẫn còn hy vọng
Và chúng ta phải cố bám, chừng nào
Ta còn khổ, nghĩa là ta còn sống,
Vì cuộc đời vẫn vậy, biết làm sao...

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/08/2018(Xem: 11391)
Hãy vui trong cuộc sống Trải lòng khắp mọi nơi Sẻ chia nguồn sống đạo Khiêm tốn giữa đất trời .
09/08/2018(Xem: 12004)
Nguồn vui tự có bao giờ Trong tôi tuôn chảy vô bờ thời gian Thắm tươi thế giới ba ngàn Nở hoa cuộc sống làm tan kiếp sầu .
08/08/2018(Xem: 13824)
Đạo làm con , giữ tròn chữ hiếu Công sinh thành , nặng trĩu ơn sâu Sinh con mang nặng đẻ đau, Nuôi con khôn lớn , gian lao nhọc nhằn Ngày hai buổi khó khăn vất vã Bên đồng sâu nắng ngã , mưa sa Vầng dương dần xuống chiều tà Vẫn còn in bóng mẹ cha ngoài đồng Nuôi con lớn lòng không quản ngại
07/08/2018(Xem: 12128)
Cali vùng Bắc đất vàng Núi đồi rừng rậm bạt ngàn thông xanh Giờ đây lửa cháy tan tành Biết bao ngàn mẫu trở thành ra tro Bao người di tản âu lo Lạy trời mưa xuống xin cho lửa tàn Lửa ơi đừng mãi lan tràn Cầu mong dân chúng bình an trở về . Dallas Texas , 6-8-2018 Tánh Thiện
07/08/2018(Xem: 14433)
Kính bạch Thầy, xã hội VN và thế giới càng ngày càng nhiều não loạn, có lẽ ít người được an bình như những người con Phật, con xin gửi đến Trang Nhà quangduc.com một bài thơ để tự sách tấn mình và cũng để tán dương công đức những Phật tử cống hiến điều thiện lành, mang niềm vui đến cho người, làm vơi bớt khổ đau cho kiếp người như việc gởi tịnh tài phụ giúp chữa bệnh của Hòa Thượng Bangladesh Ajitananda Mahathera , trên trang nhà hay giúp đở qua các hoạt động từ thiện.
06/08/2018(Xem: 10035)
Khỉ kia nhiều vợ, lắm con Thuở xưa tụ họp ở luôn vùng này Thật là đông đúc vui vầy Khỉ cha cai trị cả bầy từ lâu
03/08/2018(Xem: 20487)
Hàn Mặc Tử hay Hàn Mạc Tử, tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh ngày 22 tháng 9 năm 1912 – từ trần ngày 11 tháng 11 năm 1940 là nhà thơ nổi tiếng, khởi đầu cho dòng thơ lãng mạn hiện đại Việt Nam, là người khởi xướng ra Trường thơ Loạn. Hàn Mặc Tử cùng với Quách Tấn, Yến Lan, Chế Lan Viên được người đương thời ở Bình Định gọi là Bàn thành tứ hữu, Bốn người bạn ở thành Đồ Bàn. Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh ở làng Lệ Mỹ, Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình; lớn lên ở Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Tổ tiên Hàn Mặc Tử gốc họ Phạm ở Thanh Hóa. Ông cố là Phạm Chương vì liên quan đến quốc sự, gia đình bị truy nã, nên người con trai là Phạm Bồi phải di chuyển vào Thừa Thiên – Huế đổi họ Nguyễn theo mẫu tánh. Sinh ra ông Nguyễn Văn Toản lấy vợ là Nguyễn Thị Duy (con cụ Nguyễn Long, ngự y có danh thời vua Tự Đức), Hàn Mạc Tử, Lệ Thanh, Phong Trần là các bút danh khác của ông. Ông có tài năng làm thơ từ rất sớm khi mới 16 tuổi. Ông đã từng gặp gỡ Phan Bội Châu và chịu ảnh hưởng khá lớn của
03/08/2018(Xem: 16679)
Cuộc đời quá đổi chẳng lành Xe đi hỏi cưới trở thành đám tang Ôi ! Bao thảm cảnh tan hoang Tôi ngồi viết lại mà tan nát lòng Nghĩ về cuộc sống trăm năm Như làn tia chớp âm thầm thoáng ngang Nhìn xem cảnh tượng bẽ bàng Ai mà chẳng khỏi hai hành lệ rơi Nguyện cầu người chết thảnh thơi Nguyện cầu người sống đời đời thương nhau . Dallas Texas , 2-8-2018 Tánh Thiện
31/07/2018(Xem: 11520)
Gãy gánh tơ loan quạnh giấc đời Nghe từng giọt đắng chạm bờ môi Người đi chẳng luyến ân tình đoạn Kẻ ở đành cam đạo nghĩa rời Gối chiếc đìu hiu cơn ấm lạnh Canh trường lặng lẽ nỗi đầy vơi Cung thương dạo ấy hoà êm nhịp Điệu ái mùa sang trỗi nghẹn lời Mộng dệt bao phen vàng hoá đá Duyên gầy mấy lượt ngọc thành vôi Gom từng mạch cảm neo đầu sóng Nhặt bấy niềm đau buộc góc trời Để chữ tào khang hồng cánh thiệp Cho vần hạnh phúc thắm trùng khơi Thềm xưa vọng mãi câu nguyền ước Gãy gánh tơ loan quạnh giấc đời!
31/07/2018(Xem: 15178)
Truyền thống Phật Giáo Đại Thừa Quá Đường nghi thức, cúng trưa trong chùa An Cư Kiết Hạ đến mùa Đại Bàng lễ cúng xa xưa lưu truyền...