Kiến và chim bồ câu

03/02/201508:03(Xem: 18197)
Kiến và chim bồ câu

kien va chim bo cau



Một hôm trời nóng nực
Kiến thở than buồn bực

“Chao ơi! Khát quá lâu

Biết kiếm nước nơi đâu

Thân tôi mệt xiết bao

Không đi nổi nữa nào!”

Kiến bò quanh tìm nước

Chợt nghe ở phía trước

Tiếng nước chảy rì rào

“Đúng là tiếng nước rồi

Phải bò tới mau thôi!”

Thấy con suối tại đây

Nước sạch trong dâng đầy

“Mình phải xuống uống ngay!”

Kiến vội bò tới gần

Nhưng rủi lại trượt chân

Rơi vào suối. Than trời:

“Cứu tôi! Xin cứu tôi!”

Kiến vẫy vùng hồi lâu

Chợt một chú Bồ Câu

Thấy Kiến từ trên cao

Vội vàng thả chiếc lá

Xuống cứu Kiến mệt lả.

 

Chim nói: “Leo lên đi

Vào bờ chẳng khó chi!”

Nhờ lá Kiến mừng vui

Thoát khỏi nạn chết trôi

“Cám ơn Bồ Câu nhé!”

Kiến tạ ơn hết lời

Bồ Câu khẽ mỉm cười

Cất cánh bay rong chơi.

 

Một ngày có thợ săn

Thấy Bồ Câu trên cây

Bèn đưa súng lên ngắm

Muốn giết chú chim ngay.

Kiến ta bò quanh đây

Thấy cảnh nguy hiểm thay

Sợ Bồ Câu bị bắn

Kiến tìm cách cứu nguy

 

Bò lên chân thợ săn

Kiến nghiến răng lại cắn

Thợ săn chợt giật mình

La lớn tiếng: “Đau ghê!”

Khi nghe tiếng la kia

Bồ Câu vội bay đi

Thoát thân ngay tức thì

Kiến nhìn theo cười mỉm

Lòng kiêu hãnh kể chi
*

Lời vàng hãy khắc ghi:

“Gieo NHÂN tốt ngay đi

QUẢ lành ta sẽ hưởng

Tránh bao chuyện sầu bi!”

 

(Tâm Minh Ngô Tằng Giao
phóng tác
theo “THE ANT AND THE DOVE” của Lev Tolstoy)

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/10/2016(Xem: 15221)
Chùm Tứ Cú Lục Bát có Nụ Cười hưởng ứng. Chào ngày mới Chào nhau ngày mới nắng vàng Từng tia hi vọng ấm tràn ước mơ Chào nhau ngày mới bài thơ Tiễn ngày qua đã trống trơ tiếng cười.
07/10/2016(Xem: 18342)
Vào Thu đọc thơ Nguyễn Du: Hai bài thơ mang tên Thăng Long của Nguyễn Du Một phần nghiên cứu dịch văn bản thơ chữ Hán Nguyễn Du qua bài Thăng Long 昇龍 [1] Tản mạn nhận diện Quốc hiệu Việt Nam trong ý thơ của bài thơ Thăng Long Khái niệm lịch sử của Thăng Long Thăng Long, là kinh thành - kinh đô của đất nước Đại Việt, từ vương triều Lý , (gọi là nhà Lý hoặc Lý triều, 1009-1225) cho đến triều đại nhà Lê Trung Hưng (1533-1789), tổng cộng 564 năm[2]. Thăng Long cũng được hiểu và được biết đến trong lịch sử vốn là địa danh tên cũ của Hà Nội hiện nay. Thăng Long nghĩa là “rồng bay lên” theo nghĩa Hán-Việt, hay 昇隆[4] nghĩa là “thịnh vượng”. Từ Thăng Long: “昇隆” là từ đồng âm với tên “昇龍: Thăng Long”, nhưng mang nghĩa khác với “昇龍”.
07/10/2016(Xem: 14144)
Hoàng cung cảnh đẹp vô cùng- Hoa thơm, cỏ lạ một vùng tươi xinh- Có hòn non bộ hữu tình- Có hồ bán nguyệt in hình trời mây
07/10/2016(Xem: 11666)
Anh chàng Đại Lãng thuở xưa- Có tài đô vật rất ư tuyệt vời- Lại thêm sức mạnh hơn người,- Khi trong nội bộ ngay nơi viện nhà
07/10/2016(Xem: 13491)
Mười tám năm - Hoa Vô Ưu - Vườn xưa lấp lánh cánh hoa tâm - Mười tám năm Kẻ còn người mất - Hương Vô Ưu - Thơm ngát cõi vô thường
06/10/2016(Xem: 14037)
Cái chết từ từ sẽ đến Lo chi cho lắm cực thân Thảnh thơi nhẫn tu mà sống Có gì ta phải rối răm .
03/10/2016(Xem: 14579)
Ta đứng giữa rừng thu hắt hiu Sợi thu vàng vọt rớt trong chiều Hoàng hôn phủ gót chân hoang dã Nghe nàng thu chết giữa cô liêu
03/10/2016(Xem: 16129)
Đời người trong hơi thở Ra vào từng phút giây Thở ra mà không lại Là vĩnh biệt từ đây .
01/10/2016(Xem: 13265)
Ngồi thuyền Bát Nhã ngắm trăng Bát cơm Hương Tích trăm năm vẫn về Tào Khê trà uống bên lề Lăng Già sáng tỏ tứ bề không gian
29/09/2016(Xem: 14863)
Người về giữa chốn phù vân. Sông Hàn ngấn lệ khôn ngần tiếc thương. Người về chung cuộc vô thường. Không còn mưa nắng khói sương Bà Nà. Người về tiếng khóc vang xa. Là kinh động giữa ta bà khói mây.