Khủng bố (thơ)

29/01/201507:34(Xem: 14174)
Khủng bố (thơ)

 

Hoa Cuc Chau Phi (12)

KHỦNG BỐ

 

 

 

Phải đâu thế giới hôm nay

Khủng bố bắt đầu vào cuộc

Từ khi con người có mặt

Khủng bố đồng hành từng ngày

 

Những là :

                   Sát hại trộm cướp

                   Tinh vi lừa đảo

                    Đàn áp quy chụp

                    Nhân danh dốt nát

                   Đỏ đen băng nhóm…

 

Phải đâu !

Nay khủng bố chỉ mang bom đạn

Đến nhà ga, tàu điện, phi trường

Liều tự sát chổ người tụ tập

Hay những nơi cơ sở công đường.

 

Tính thêm;

Nỗi sợ hải từ những trái bom…

Những điều không muốn thấy,

Phải thấy …!

Những điều không muốn nghe,

Phải nghe…!

Những ác tư duy không cần,

Lại cần…!

 

Giáo dục, Đạo Đức vỏ ốc

Bắt đầu từ những dục tham.

 

Sẵn sàng nổ tung

Bao nhiểm ô, thảm họa thiên nhiên

Khi dòng sông

Lòng đất,

Núi rừng

                   Là sự chết!

Khi khoảng trời vẩn đục bởi khí độc…

Có khủng bố nào

Khủng bố hơn !

 

                              MẶC PHƯƠNG TỬ.

 

 

 

 

ĐỒ YÊU!

 

Khi xưa

Phật Ngài bỏ ráo

Sau lưng chẳng tiếc, ra đi

Vấn thân vào đại tuyết lảnh

Tìm ra mối đạo Từ Bi.

 

Con đường bình an : Vô nhiễm

Con đường ý thức : tự thân.

Nhận ra qui trình hiện tượng

Khổ đau từ ấy… tiêu dần!

 

Cửa đạo thường hằng mở rộng

Thênh thang lộng gió muôn phương

Lòng người thường khi khép kín

Hoang vu phía trước con đường.

 

Ngày nay có người đến Phật

Cầu xin, cầu xin lắm điều…

Khiến trên sen vàng chín phẫm

Phật nghe, Phật càng sợ nhiều…!

 

Ngày xưa Phật bỏ tất cả

Bây giờ nhẩm nhẩm… đồ yêu !

 

                                                      MẶC PHƯƠNG TỬ.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
21/02/2011(Xem: 13471)
Khói mây liễu mộng, ngoại trần chơi Trăng nước hoa gương, gẫm lại cười Nhân ái đề huề, sao tỏ rạng...
21/02/2011(Xem: 17306)
chẳng phải là bài thơ hẹn ước chẳng phải là ý tưởng vẽ vời mà mùa xuân năm nay lại như cánh gió hân hoan đi về...
21/02/2011(Xem: 14648)
cánh rất mỏng chim đường bay rồi chẳng tới bởi mù sa hớt hải đuổi bên chân
19/02/2011(Xem: 28243)
Hết lòng trân quí và ghi nhớ ân đức sâu dầy của sư Sán Nhiên đã biên soạn và hiệu đính tập sách này, cũng như đã hoan hỷ cho phép Hội Thiện Đức ấn tống nhằm góp phần vào công cuộc hoằng hóa Phật pháp đem đến lợi lạc cho nhiều người. Hội Thiện Đức xin biết ơn sự ủng hộ tinh thần và tán thán sự phát tâm đóng góp tịnh tài của quý Phật tử và ân nhân cho công trình ấn tống này. Xin tri ân chị Thân Thục & anh Thân Phúc đánh máy tập sách; anh Thân Hòa trình bày sách bao gồm thiết kế bìa sách; anh Chúc Giới, anh Thiện Tánh, cùng anh Chúc Tùng cung cấp tài liệu và hình ảnh; Tâm Hân Huệ thỉnh ý sư Sán Nhiên; chị Tâm Thiện, chị Chơn Hạnh Bạch, chị Diệu Âm, Thân Hồng, cùng anh chị Lê Lộc (Lancaster, PA) phụ giúp sổ sách, liên lạc, và kêu gọi cho quỹ ấn tống.
19/02/2011(Xem: 14802)
Lá xanh cõng nắng sang mùa Phất phơ sương khói hiên chùa gọi nhau Làm thơ, hoa cỏ chụm đầu...
13/02/2011(Xem: 60186)
Vội đến, vội đi, vội nhạt nhòa Vội vàng sum họp vội chia xa. Vội ăn, vội nói rồi vội thở Vội hưởng thụ mau để vội già.
06/02/2011(Xem: 13189)
Đường của thơ là đầm đìa cát bụi Vùi nắng mưa sấm chớp bão bùng Và khơi mở dòng đời từ vô thủy...
02/02/2011(Xem: 11869)
"Trước sau nào thấy bóng người, Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông." Ngữ tình vương vấn. Tâm cảnh xao động. Mối tương dữ sâu sắc giữa thiên nhân trong lần Kim Trọng trở lại vườn Thúy tìm Kiều. Người xưa vắng bóng, chỉ thấy cảnh cũ hoa đào cười trước gió đông ngày xuân. Đó cũng chính là cảnh của Thôi Hộ trong bài thơ dưới đây.
02/02/2011(Xem: 17163)
1) Đối với các Thiền Sư thời Lý-Trần, sự ứng dụng tâm thức tu hành với những giáo lý Đức Phật truyền dạy là một. Trong Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Nhập Pháp Giới, Đức Phật khai thị về không gian: "Mười phương thế giới đồng nhất thể." Trong Kinh Kim Cang, Đức Phật mở bày ý niệm về thời gian: "Quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vi lai tâm bất khả đắc."
02/02/2011(Xem: 15487)
Sự hiện hữu đột biến phản diện của một đóa mai đã đánh lay tâm thức của người đọc một cách bất ngờ, tạo ra một mối nghi tình cho hành giả, trong hai câu song thất kết thúc của bài kệ, mà thiền sư Mãn Giác đã trao cho những người đi sau, nhân lúc cáo bệnh thị chúng của ngài, chúng vẫn còn tiếp tục chảy không biết bao nhiêu bút mực để nói về sự hiện hữu của chúng.